Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐƯỜNG 14 XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐÔNG TRƯỜNG SƠN (1973 -1975)

Sinh năm: 1940 Quê quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: Nhà số 106/N12, K9, Ngõ 49, đường Nguyễn Khoái, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội Điện thoại: 04.38214533 - 0948 517308 Nguyên cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT biệt phái Nguyên Tổ trưởng Đội Khảo sát 1, Trợ lý Phòng Thiết kế Cục Tham mưu Công binh Nguyên Trưởng phòng Viện Khảo sát Thiết kế Binh đoàn 12

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn là chiến dịch cuối cùng trong chuỗi chiến dịch mở đường ở Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước.

Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương xây dựng, hoàn thiện thế trận cầu đường mới, đón thời cơ lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Khác với các chiến địch trước, từ năm 1973 đế quốc Mỹ không đánh phá ngăn chặn bằng không quân trên cả hai chiến trường Việt Lào là thuận lợi lớn cho hoạt động vận chuyển trên địa bàn Trường Sơn và cho cả việc củng cố xây dựng mạng đường đông và tây Trường Sơn.


"Xây dựng cơ bản đông Trường Sơn" là chiến dịch xây đựng một tuyến đường có cấp, phải tuân thủ đầy đủ trình tự, quy trình quy phạm kỹ thuật của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng công trình. Tuyến đường xây dựng xong bảo đảm vận chuyển nhanh hơn do gần chiến trường hơn, nhiều hơn do vận chuyển được cả hai mùa.


Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã triển khai chỉ đạo, chỉ huy, điều hành theo mô hình một chiến dịch đặc biệt mang tính chất bài bản về quân sự, bài bản về xây dựng từ công tác chuẩn bị đến công tác thi công.

Từ đầu năm 1973, Cục Tham mưu Công binh đã tính toán kế hoạch 5 năm cải tạo, xây dựng mạng đường Trường Sơn, trong đó có kế hoạch xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn. Sau nhiều lần nghe báo cáo và thẩm xét và bằng văn bản số 247/TTg, ngày 17 tháng 11 năm 1973 Chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ thiết kế với những nội dung chính như sau:

- Đường Đông Trường Sơn: điểm đầu Tân Kỳ (Nghệ An), điểm cuối Chơn Thành (Bình Phước), có chiều dài 1.200 ki lô mét.

- Tiêu chuẩn cấp xây dựng: Cấp 4 miền núi, nền đường 9,00 mét, mặt đường 5,50 mét, cầu cống vĩnh cửu và bán vĩnh cửu.

- Bảo đảm cho hành quân cơ giới vận chuyển cả hai mùa tốc độ 60 km/giờ.

- Thời gian thi công 3 năm tính từ 01 tháng 01 năm 1974.

Bộ Tư lệnh Trường Sơn được Bộ Quốc phòng giao phụ trách xây dựng từ Khe Gát (Quảng Bình) vào đến Chơn Thành, trước mắt tới Bù Gia Mập. Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Quốc phòng phụ trách toàn bộ từ khảo sát thiết kế, thi công đến nghiệm thu công trình. Các Bộ chức năng của Nhà nước theo trách nhiệm của mình giúp đỡ Bộ Quốc phòng hoàn thành công trình trong thời gian quy định.


Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai ngay nhiệm vụ, trước hết là công tác khảo sát thiết kế.

Để đảm bảo tiến độ, Bộ Tư lệnh sử dụng 3 lực lượng khảo sát gồm: 4 đại đội của Tiểu đoàn Khảo sát 976 trực thuộc Cục Tham mưu Công binh mới được thành lập; các đơn vị khảo sát trực thuộc các trung đoàn, các sư đoàn thi công và ba đơn vị được Nhà nước tăng cường phối thuộc có thời hạn gồm Đội Khảo sát 31, Đội Khảo sát 8 Viện Thiết kế Giao thông, đội TS - 73 trường Đại học Giao thông vận tải. Các lực lượng khảo sát nói trên được trang bị đồng bộ 130 máy kinh vỹ thuỷ chuẩn, bố trí thực hiện tại các địa đoạn sau:

Đại đội 2 - Tiểu đoàn 976 được giao khảo sát đoạn Khe Gát đến U Bò dài 60 ki lô mét. Đây là đoạn khó nhất do địa hình rất phức tạp, phải vượt qua phà Xuân Sơn, mở trọng điểm lớn. Bước thị sát đã phải dùng máy bay trực thăng, dùng thuyền độc mộc len lỏi vào các khe suối để xác định tuyến đường. Đại đội 2 đã khảo sát đoạn này trong 4 tháng.

Đội 31 - Viện Thiết kế Giao thông phụ trách từ U Bò đến Rào Reng dài 70 ki lô mét cũng là một trong những đoạn khó nhất. Đội 31 là đội khảo sát có năng lực của Viện Thiết kế Giao thông.

Đội Khảo sát 8 khảo sát định tuyến từ nam Đắkrông đến đường B74 đi A Roàng.

Đại đội 3 - Tiểu đoàn 976 nhận đoạn Đắkrông đến A Lưới dài 80 ki lô mét. Qua Đăkrông có hai phương án để thị sát so sánh, cuối cùng chọn phương án tuyến vượt qua Đắkrông bằng cầu dây văng, một kiểu cầu hiện đại thời đó. Đoạn này phải qua đèo Pê Ke là một điểm có địa hình, địa chất đều phức tạp, cũng là một đoạn khó khăn trong dự án. Đại đội 3 định tuyến 8 ki lô mét đoạn này, sau đó giao cho Đội Khảo sát 8 để chuyển vào khảo sát từ A Sờ đến cầu Thạnh Mỹ.

Đội TS - 73 trường Đại học Giao thông được giao đoạn A Lưới đến A Vương dài khoảng 60 ki lô mét. Đội gồm 16 giáo viên, 4 cán bộ và 99 sinh viên khoá 9 và 10 công tác trong 6 tháng. Nếu đi sang đất Quảng Nam, phải vượt qua vùng núi tây đèo Hải Vân địa hình địa thế rất phức tạp, dài hơn, thi công không bảo đảm thời gian, nên tạm thời mượn 22 ki lô mét đất bạn Lào về phía tây.

Đại đội 5 - Tiểu đoàn 976 đoạn A Vương đi A Sờ phải qua các cầu tương đối lớn. Đoạn này rừng núi trùng điệp cũng thuộc loại có địa hình phức tạp.

Đại đội 4 - Tiểu đoàn 976 chuyên khảo sát khoan thăm dò địa chất, khảo sát thuỷ văn địa hình các cầu trên đường đông Trường Sơn và khôi phục hệ thống cầu trên đường số 9.

Các đơn vị khảo sát của các trung đoàn, sư đoàn thi công chủ yếu khảo sát khôi phục từ Thạnh Mỹ trên đường 14 cũ trở vào phía nam theo địa đoạn đơn vị được giao thi công.

Công tác thiết kế do phòng thiết kế Cục Tham mưu Công binh thực hiện. Các đơn vị khảo sát tuyến đường được giao thiết kế bản mộc ngoài hiện trường, tài liệu khảo sát địa chất thuỷ văn cầu được chuyển về phòng thực hiện thiết kế bước kỹ thuật thi công các cầu, dự toán khối lượng và tổ chức can in. Các cầu Bến Tất, Đắkrông công tác thiết kế đã được sự giúp đỡ của Viện Kỹ thuật Giao thông và trường Đại học Xây dựng. Do khối lượng khảo sát thiết kế quá lớn nên đã có lúc cho phép một số đoạn vừa khảo sát thiết kế vừa thi công.


Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định:

Tuyến đường trải dài từ Bắc vào Nam qua nhiều tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Đà, Kon Tụm, Gia Lai, Đắc Lắc, Phước Long, có địa hình khác nhau, địa chất phức tạp. Phía bắc qua rừng núi, âm u, nhiều núi đá,nhiều đèo, nhiều sông suối, thi công khó khăn. Từ Đắc Công Tây Nguyên trở vào có địa hình cao nguyên dễ thi công hơn. Khối lượng khá lớn so với đường mở phía tây, thời tiết cũng khá phức tạp, mưa nhiều, nhiều cơn bão trong năm.


Mỹ đã rút quân, chỉ còn lại không quân của Nguỵ. Tuy nhiên ta vẫn phải cảnh giác đề phòng. Từ Quảng Nam trở vào, còn nhiều căn cứ gần tuyến đường.

Công binh Trường Sơn rất phấn khởi chờ đón lệnh mở đường phía đông, nguyện vọng sâu xa trong nhiều năm nay thành hiện thực. Đã nhiều năm mở đường trong chiến tranh, công binh Trường Sơn hiểu hơn ai hết núi rừng Trường Sơn, biết cách khắc phục khó khăn, nay lại được thi công công khai ban ngày, được đảm bảo đầy đủ hậu cần, xe máy, vật tư, nhất định sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Xây dựng cầu đường có cấp hạng là nhiệm vụ rất mới mẻ, công binh Trường Sơn chưa bao giờ thực hiện là trở ngại khó khăn lớn nhất đòi hỏi từ người chỉ huy đến chiến sĩ phải đổi mới cách suy nghĩ mới có thể phát huy được sức mạnh của trí tuệ, của trang thiết bị, của sức lao động nhằm đảm bảo được tiến độ yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật của tuyến đường.


Nhận rõ đặc điểm tình hình, hiểu rõ đối tượng tác chiến để đánh thắng, biết rõ mạnh yếu của ta, Bộ Tư lệnh đã đặt vấn đề phải xây dựng con người trước hết ngay trong bước chuẩn bị bước vào chiến dịch. Đã mở các đợt tập huấn cho cán bộ, đào tạo huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn cho chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật tại trường lớp, học tập làm mẫu tại hiện trường, và đồng thời xin bổ sung các loại thợ nghề, thợ lái.


Nhận rõ cán bộ là khâu quyết định, Bộ Tư lệnh đã tổ chức lớp huấn luyện tại Bang (đường 16) trong một tháng gồm gần 200 cán bộ từ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, các cơ quan của Bộ Tư lệnh. Nội dung cơ bản là thực hiện 3 đổi mới - đổi mới về nhận thức thi công theo hướng sản xuất công nghiệp chuyên sâu đồng bộ - đổi mới về phương thức tác nghiệp 4 sức mạnh: mã lực, thuốc nổ, công cụ cải tiến, thô sơ - đổi mới về tổ chức lấy trung đoàn chuyên sâu từng mặt, trung đoàn nền, trung đoàn móng, trung đoàn mặt đường, trung đoàn cầu, các đại đội có chuyên môn riêng của mình trực thuộc trung đoàn, bỏ cấp tiểu đoàn.

Các cán bộ được tập huấn về đơn vị tổ chức truyền đạt và thực hiện trong đơn vị của mình.

Về lái thợ yêu cầu cho nhiệm vụ rất lớn. Trường 975 có 5 đại đội được chuyên môn hoá đào tạo, trong 3 tháng đã đào tạo được 308 lái sử dụng các máy san, ủi, lu, máy đào, 34 đội trưởng thi công cơ giới nâng tổng số thợ máy trước khi vào chiến dịch lên 2.478 lái, 704 thợ, 474 nhân viên kỹ thuật.


Về đào tạo khảo sát Tiểu đoàn 976 được biên chế Đại đội 6 đào tạo nhân viên khảo sát, đã tổ chức được 4 khoá giảng dạy đào tạo được 200 người có trình độ bậc 3 bổ sung cho các đơn vị. Viện Thiết kế Giao thông đã giúp 8 kỹ sư vào công tác giảng dạy trực tiếp trong 2 năm 1973-1974.


Đào tạo bổ túc thợ kích kéo, thợ sắt, thợ bê tông về lý thuyết và thực hành tại Trung đoàn 99 cầu.

Năm 1973, Bộ Tư lệnh đã cử 4 kỹ sư bổ túc sau đại học về kỹ thuật xây dựng cầu đường do trường Đại học Giao thông đào tạo tại Nam Định, nhiều kỹ sư cầu được học tập bồi dưỡng tại các cơ quan của Nhà nước, và tại đơn vị do các thầy, các kỹ sư ở các viện, các trường đại học vào giảng.


Bộ Tư lệnh cũng đã đề nghị bổ sung và đã tiếp nhận hàng trăm kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trung cấp các loại địa chất, thuỷ văn, cơ khí, xe máy, cầu đường,...

Như vậy trong gần một năm chuẩn bị, Công binh Trường Sơn đã có một lực lượng khá mạnh, nhân tố quan trọng hàng đầu để vững vàng bước vào chiến dịch. Quân số được Bộ duyệt cho chiến dịch đường Đông Trường Sơn là 37.388 người, chiếm 37% lực lượng toàn tuyến.


Hiểu rõ trang thiết bị xe máy và vật tư thi công là điều kiện để con đường thi công đạt tiến độ và chất lượng, Bộ Tư lệnh tìm đủ mọi cách để được đảm bảo: do Quân đội, do Nhà nước cung cấp và xin viện trợ của các nước Bạn. Trong số hơn 300 đầu trang thiết bị có 1.167 xe vận tải, xe ben các loại, có 30 xe 7 đến 14 tấn; 317 xe ủi, có 48 xe ủi 180 CV; 22 cặp chuyển, 25 máy san, 57 xúc E652 và 41 xúc lốp, gần 300 máy các loại máy nghiền sàng, trang thiết bị khoan thăm dò địa chất, xe xét nghiệm công trình lưu động, v.v...

Bộ Tư lệnh chia toàn tuyến làm 3 khu vực phân công cho 3 sư đoàn Công binh phụ trách:

Khu vực phía bắc giao cho Sư đoàn 473 đảm nhiệm 204 ki lô mét đường mới từ đường 9 đến Trao. Đây là đoạn được xem là trọng điểm của chiến dịch, được ưu tiên về nhân lực, trang bị chất lượng cao.

Đoạn giữa do Sư đoàn 472 phụ trách từ Trao, Bung, Giàng, Khâm Đức, Đắc Công chiều dài 230 ki lô mét. Từ Giàng vào là đường cũ phải cải tạo.

Khu vực phía nam từ Đắc Công qua các tỉnh Tây Nguyên vào Chơn Thành, địa hình vùng cao nguyên, tương đối bằng phẳng khối lượng không lớn.

Bộ chỉ huy chiến dịch tập trung chỉ đạo khu vực phía bắc có khối lượng lớn, địa hình phức tạp, thời gian yêu cầu hoàn thành sớm nhất, lực lượng bố trí theo đơn vị được chuyên môn hoá như sau:

Trung đoàn 6 đảm nhiệm đoạn nam cầu Đắkrông đến A Cho, đường đi ven sông Đắkrông là đoạn đường có địa hình phức tạp, ta luy cao vực sâu, được ưu tiên trang bị xe máy công suất lớn 180 mã lực. Khối lượng lớn nhiều đá thi công bằng biện pháp nổ mìn, có đội đục choòng chuyên nghiệp tác nghiệp ban ngày, đến giờ quy định mới được phát hoa đồng loạt, phá nổ theo tầng lớp từ trên cao xuống. Các đơn vị thi công khác đều tuân thủ biện pháp này.

Trung đoàn 509 là trung đoàn mặt đường cấp thấp cấp phối sỏi, cống và cầu nhỏ vĩnh cửu.

Trung đoàn 529 là trung đoàn chuyên thi công nền móng, thực hiện đoạn từ A Cho đến Tà Rụt, có đoạn đá 10 ki lô mét liền khối tại A Cho, là đoạn có khối lượng lớn theo thiết kế 1.680.000 mét khối, được trang bị một dàn xe máy mạnh, áp dụng biện pháp đánh bộc phá "bung" sau đó dùng xe máy xử lý.

Trung đoàn 217 chuyên nền móng đảm nhiệm từ Tà Rụt Pê Ke đến Ha Tia. Điểm khó nhất là đèo Pế Ke, đá granit phong hoá, ta luy cao, được ưu tiên máy ủi, ép hơi khoan đá và bộc phá.

Trung đoàn 542 đảm nhiệm từ A Lưới, A Sầu, Bù Lạch. Đoạn này tương đối bằng, chủ yếu đắp nền, làm mặt cấp phối sỏi.

Trung đoàn 98 được giao đoạn khó khăn nhiều khối lượng Trao đi Bến Giàng.

Ngày 01 tháng 01 năm 1974 chiến địch được mở theo lệnh của Bộ.

Đã được chuẩn bị kỹ về mọi mặt, các đơn vị đồng loạt rầm rộ ra quân. Tiếng bộc phá, tiếng xe máy, tiếng còi chỉ huy vang dậy khắp tuyến đường. Với khí thế ngày ra quân, năng suất công tác ở các đơn vị cứ tăng dần từng ngày, từng công việc.

Tại Trung đoàn 6 đã có phong trào thi đua của lái máy ủi C180 đuổi kịp năng suất của thợ máy bạn Cu Ba, đạt tới 700 - 800 mét khối/ngày. Trung đoàn 529 đã có biện pháp sử dụng nổ phá lớn kết hợp máy ủi để đục phá trên đoạn đường dài 10 ki lô mét liên tục đá liền khối tại A Cho đạt năng suất cao, đánh bộc phá có kỹ thuật, chủ yếu đá tung khỏi mặt đường. Trung đoàn 217 thi công đèo Pê Ke dài 15 ki lô mét, nhiều đá, đường lượn quanh co khúc khuỷu nhiều tầng. Các kỹ sư đã thiết kế phương pháp nổ vi sai, hiệu suất thuốc nổ đạt cao. Đội hình máy ủi kết hợp máy gạt thực hiện theo tầng, xả ta luy thủ công trên cao hàng chục mét, vẫn an toàn. Trung đoàn 98 những năm trước đã từng bền bỉ chung sống với đèo A Đớt quanh năm mây mù ẩm ướt, nay được tăng cường trang bị máy có công suất lớn, có đủ thuốc nổ đã vận dụng tốt 4 sức mạnh nên cũng nhanh chóng "quét sạch La Hia, đè đầu A Đớt" như khẩu hiệu đã đề ra.


Trung đoàn 542 thực hiện đoạn Ha Tia, A Lưới, A Xô khối lượng đắp nhiều hơn, đã biết kết hợp máy ủi đất hai bên đường kết hợp máy san, một phần nhân lực, máy lu lèn theo sơ đồ thiết kế. Đơn vị đã có sáng kiến làm ke xả sỏi, đảm bảo xe ra vào liên tục không phải chờ lâu.


Trung đoàn 515 chuyên thi công mặt đường, năm 1974 rải nhựa mặt đường còn lại trên đường số 9 sau đó rải thảm mặt đường bê tông nhựa đường đông Trường Sơn. Rải thảm mặt đường là một công việc mới lạ đối với công binh Trường Sơn, nhưng do có quyết tâm cao, có tinh thần tìm hiểu học hổi nên rất nhanh chóng, Trung đoàn 515 đã làm chủ được công nghệ hoàn toàn mới này. Trung đoàn 509 chuyên thi công mặt đường cấp thấp rải cấp phối sỏi, thi công công vĩnh cửu và cầu nhỏ, việc làm cũng hoàn toàn mới nhưng do được đào tạo, tích cực học tập nên trung đoàn triển khai một cách bài bản, đồng hành kịp thời với các trung đoàn làm nền đường.


Trung đoàn cầu 99 triển khai nhanh chóng khôi phục hệ thống cầu trên đường 9, làm cầu treo Bến Tất trên đường 42 và cầu treo Đắkrông. Với sự giúp đỡ về kỹ thuật thi công của Viện Kỹ thuật Giao thông, trường Đại học Xây dựng, Trung đoàn biết tận dụng những dầm thép chiến lợi phẩm. Khi Trung đoàn 99 được điều động phuc vụ chiến dịch Xuân 1975, Trung đoàn 509 tiếp tục nhiệm vụ, cầu treo Đăkrông đã hoàn thành đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật.


Trung đoàn 30, Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 472 là những đơn vị cơ động có nhiều kinh nghiệm mở đường trong chiến tranh, nay do được trang bị, được huấn luyện, được chuẩn bị tốt đã nhanh chóng hoà nhập, đã thành công trong việc vừa tự cải tạo xây dựng cơ bản đường 14 vừa đảm bảo vận chuyển đánh địch ở Thượng Đức và giải phóng Đắc Pét. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 470, năm 1974 tuy chưa đảm nhận công tác xây dựng cơ bản nhưng đã làm nền đường đúng tiêu chuẩn, rải cấp phối tại chỗ là cơ sở để những năm tiếp theo nhận công tác xây dựng cơ bản vững chắc hơn.


Với khí thế lao động phục vụ chiến đấu năm 1974, giai đoạn đầu của chiến dịch đã thu được kết quả to lớn, từ Đắkrông trở vào, tuyến Đông Trường Sơn đã được chọc thủng và nối liền, các điểm "rắn nhất" A Cho, Pê Ke, A Đớt đã được cơ bản giải quyết.

Tuy nhiên thời gian đầu tốc độ thực hiện còn chậm, chưa đồng bộ, chưa thực hiện nhanh chóng yêu cầu thi công dây chuyền. Năng suất máy ủi mới đạt 80% công suất, tai nạn lao động còn khá nhiều gây thiệt hại về người và phương tiện, còn chủ quan, sẵn sàng chiến đấu chưa cao nên để máy bay địch đánh vào đội hình ở Khâm Đức, tỷ lệ sốt rét còn cao 12,7%. Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974, ba cơn bão lớn đổ bộ gây sụt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng tốc độ xây dựng cơ bản.


Nhận rõ trách nhiệm trước lịch sử, tháng 7 năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức hội nghị toàn tuyến, trong đó xác định mục tiêu cơ bản của công binh 6 tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh mở đợt "tổng công kích" từ đường 9 vào Xưởng Giấy. Đợt tổng công kích nhằm mục tiêu đến tháng 3 năm 1975 hoàn thành 75 ki lô mét nền, 102 ki lô mét móng, 6.000 mét cầu cống các loại với gần 2 triệu mét khối đá, 4 triệu mét khối đất, và 645.750 mét khối móng đường.


Các đơn vị đã tổ chức làm 3 ca trên hiện trường, xe máy làm 1,5 ca/ngày, hậu cần đảm bảo tăng mức ăn hàng ngày, bảo đảm đủ ấm, chống muỗi, diệt sốt rét. Phong trào thi đua được dấy lên với khí thế mới. Kết quả đầu tháng 12 Trung đoàn 515 đã hoàn thảnh rải đá mặt đường đến tây Rào Quán, giữa tháng 12 Trung đoàn 99 hoàn thành cầu treo Bến Tất, các trung đoàn khác đều nỗ lực vượt qua các điểm rắn, hoàn thiện từng bước móng mặt đường. Cuối tháng 12 năm 1974 các đơn vị đã thực hiện 1.502.700 mét khối đất đá, 22 ki lô mét nền móng đường được hoàn thành, rải đá được 27 ki lô mét.


Đầu tháng 3 năm 1975, các khu vực trọng điểm đã được đánh thông đúng với yêu cầu của chiến dịch, cơ bản đã nối liền tuyến Đông Trường Sơn từ phía Bắc trở vào.

Đầu năm 1975, thắng lợi chiến dịch Phước Long mở ra một tình thế chiến lược mới có lợi cho ta. Từ 18 tháng 12 năm 1974 đến 08 tháng 01 năm 1975, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng hoạch định phương án tác chiến, tạo ra thời cơ lớn giải phóng miền Nam. Bộ Tư lệnh Trường Sơn động viên các lực lượng công binh đẩy nhanh tốc độ mở đường cơ bản và cải tạo một số trục đường chiến lược nối vào các trục đường Tây Nguyên và Nam Bộ. Chiến dịch xây dựng cơ bản Đông Trường Sơn đi vào giai đoạn quyết liệt, mạnh mẽ hơn, vừa đẩy nhanh việc mở đường theo tiêu chuẩn cơ bản vừa sẵn sàng đảm bảo giao thông phục vụ việc đón các binh đoàn cơ động và binh khí kỹ thuật lớn vào chiến trường. Đến tháng 3 năm 1975, bộ đội ta tiến công Buôn Mê Thuật mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó mở chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng. Hàng ngày từng đoàn xe dồn dập nối đuôi nhau cơ động các binh đoàn chủ lực, các đoàn binh khí kỹ thuật lớn trên các tuyến đường công binh Trường Sơn bảo đảm. Cán bộ chiến sĩ trên tuyến Đông Trường Sơn vô cùng phấn khởi, trực tiếp vẫy chàohàng ngàn chuyến xe đang băng băng lướt qua ngay trên tuyến đường vừa được xây dựng với tiêu chuẩn quốc gia, tự hào chiến dịch xây dụng cầu đường Đông Trường Sơn đang hoà nhịp với các chiến dịch khác trên chiến trường.


Cuối tháng 3 năm 1975, một phần lớn lực lượng xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn đã chuyển sang nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên trục đường 1A, đường 19, 21... đảm bảo cho đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Tuyến đường xây dựng cơ bản phía đông cùng với tuyến đường nâng cấp phía tây Trường Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.


Xây dựng cơ bản tuyến Đông Trường Sơn chuyển sang một giai đoạn mới để những năm tiếp theo hoàn thành chuyển giao cho lực lượng quản lý của ngành Giao thông vận tải.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn