QUÂN DÂN ĐƯỜNG 5 NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ SÂU ĐẬM TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ
VÕ AN ĐÔNG
Truyền thống chiến đấu giữ nước từ xa xưa.
Tại vùng đường 5, sử sách xưa đã từng ghi chép bao chiến công chống quân xâm lược của tổ tiên ta.
Năm 40 đầu công nguyên, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tại vùng Kinh Môn (Hải Dương) đã có Nguyễn Huyến cùng con gái là bà Thánh Thiên lập đội nghĩa binh nổi dậy chiếm cứ cả một vùng. Lại có bà Lê Chân lập nên căn cứ An Biên (Hải Phòng), với những dân binh vừa sản xuất, vừa luyện tập võ nghệ.
Năm 542, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí lập nên nước Vạn Xuân. Năm 545, bắt đầu chống quân nhà Lương, sau đó Lý Nam Đế trao quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến. Triệu Quang Phục đã lui quân về đồng bằng, chọn Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến. Sách sử miêu tả: "Dạ Trạch (bãi Mạn Trù tỉnh Hưng Yên) là một vùng đồng lầy rộng mênh mang, lau sậy um tùm. Triệu Quang Phục đã bí mật đóng quân ở bãi nổi, ban ngày tắt hết khói lửa, đêm đến nghĩa quân chèo thuyền ra đánh úp trại giặc, cướp vũ khí, lương thực. Quân Lương cố đánh vào vùng Dạ Trạch, nhưng đều bị thất bại. Cuối cùng, trải qua 4 năm chiến đấụ, năm 550, Triệu Việt Vương mở cuộc tấn công lớn đánh đuổi quân Lương, giành lại chủ quyền đất nước". Theo ngôn ngữ hiện nay, đó là một điển hình của chiến tranh du kích trên một vùng đồng bằng diễn ra vào thế kỷ thứ 6. Từ đó có thể suy tôn Triệu Việt Vương là ông thủy tổ đánh du kích từ cách đây 14 thế kỷ.
Năm 983, Ngô Quyền đã tạo nên chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại lần thứ nhất, đánh dấu bước ngoặt của lịch sử Việt Nam, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của đất nước.
Thời nhà Trần, ông cha ta đã lập nên chiến công lừng lẫy ở Hàm Tử, Tây Kết, chiến thắng Bạch Đằng lần thứ ba với các danh tướng như Trần Hưng Đạo (Vạn Kiếp, Hải Dương), Phạm Ngũ Lão (Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên).
Thời nhà Lê đánh đuổi quân nhà Minh là chiến công của Lê Lợi; theo ông là Nguyễn Trãi ở Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) với bài "Bình Ngô Đại Cáo" nổi tiếng.
Truyền thống chiến đấu thời Pháp đô hộ
Năm 1858, Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta từ việc đánh chiếm Đà Nẵng rồi chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ. Tháng 11-1873, chúng đánh chiếm Hà Nội. Ngày 6-6-1884, bản điều ước gọi là Điều ước Pa-tơ-nốt (Patenôtre) chính thức đặt Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ của Pháp, còn Nam Kỳ là đất thuộc địa, Phong trào kháng chiến nổ ra khắp nơi. Miền Nam có cuộc khởi nghĩa của Trương Định, miền Trung và Bắc có phong trào Cần Vương, có các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Yên Thế, v.v...
Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy nổ ra trên vùng đường số 5, tóm tắt như sau: "Năm 1885, nghe theo tiếng gọi của Cần Vương, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy. Nguyễn Thiện Thuật vốn quê ở làng Xuân Dục, Mỹ Hào, Hưng Yên, đã từng chỉ huy quân đội triều đình đánh pháp ở Sơn Tây, được phong là Tán Tướng Quân Vụ, dân thường gọi là "Tán Thuật". Sau điều ước 1884, ông chiêu mộ nghĩa quân và lập căn cứ chống Pháp ở Bãi Sậy. Bãi Sậy chính là vùng đầm Dạ Trạch, xưa là căn cứ đánh du kích của Triệu Quang Phục hồi thế kỷ thứ 6. Khoảng giữa thế kỷ 19, vùng này xảy ra nhiều năm vỡ đê sông Hồng, trở thành vùng lau, sậy um tùm. Vùng này lại nằm trên hai ngả đường giao thông quan trọng Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Thái Bình. Trong những năm 1885 - 1889, nhiều trận đánh quyết liệt đã xảy ra giữa nghĩa quân và giặc Pháp. Nghĩa quân thường phân tán thành những nhóm nhỏ ẩn hiện trong lau sậy, thôn xóm, bất ngờ phục kích tiêu diệt các toán quân tuần tiễu, chặn đường giao thông tiếp tế, tập kích các đồn lẻ của giặc.
Nghĩa quân Bãi Sậy còn mở rộng phối hợp tác chiến với các toán nghĩa quân lân cận ở Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Yên, trong đó có Đốc Tít hoạt động ở huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng).
Giặc Pháp phải lập một hệ thống đồn bốt để kiểm soát trong vùng, điển hình là chúng đặt và duy trì bốt Bần Yên Nhân tới ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.
Khởi nghĩa Bãi Sậy kéo dài được 5 năm (1885 - 1889). Những tinh hoa chiến đấu với lòng yêu nước nồng nàn của nghĩa quân Bãi Sậy cũng như của Triệu Quang Phục xưa đã hun đúc lòng tự hào dân tộc và phương pháp đánh du kích mưu mẹo, dẻo dai của quân dân vùng đường 5 trong kháng chiến chống Pháp. | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 11« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2022, 07:05:12 am » | Hoạt động vũ trang thời kỳ tiền khởi nghĩa
Chớp thời cơ khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đường 5 cùng cả nước sôi nổi vùng lên đấu tranh, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.
Trong hoạt động vũ trang nổi lên hai sự kiện sau:
a) Tước súng đồn Bần Yên Nhân đêm ngày 12-3-1945.
Bần Yên Nhân cách Hà Nội có 25km, là vùng thuần túy đồng bằng. Cách đây 50 năm, chính đồn này được xây dựng để khống chế đàn áp phong trào Bãi Sậy. Trận đánh đêm ngày 12-3-1945 xảy ra chỉ sau 3 ngày Nhật đảo chính Pháp, do lực lượng tự vệ dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành. Chỉ huy đã khéo chọn thời cơ khi Pháp đang hoang mang, bỏ súng đợi nộp cho Nhật, biết vận động một số lính giác ngộ làm nội ứng dùng cách đánh úp bất ngờ, áp đảo quân địch; kết quả ta đã thu toàn bộ vũ khí.
Tại thời điểm lịch sử thời đó, trận Bần Yên Nhân đã tạo tiếng vang rất lớn tới cả vùng châu thổ sông Hồng, đã thực sự làm áp lực, gây thanh thế cho phong trào chính trị, thúc đẩy việc tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Về sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương: "Đó là một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ".
b) Hoạt động sôi nổi của chiến khu Trần Hưng Đạo tháng 6 - 8 năm 1945.
Ngày 8-6-1945, xuất phát từ chùa Bắc Mã (Đông Triều) chính thức thành lập chiến khu Trần Hưng Đạo. Ngày hôm đó, chiến khu đã hạ luôn mấy đồn: Đông Triều, Tràng Bạch, đồn Thiên (Chi Ngãi, Chí Linh). Sau đó, ngày 20-7-1945, đã giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên, một tỉnh lỵ được giải phóng đầu tiên trước tổng khởi nghĩa một tháng. Thanh thế của chiến khu lên rất cao.
Hoạt động của chiến khu Trần Hưng Đạo có mấy đặc điểm sau:
- Trên cơ sở vận động được một số binh lính đồn Đông Triều, theo đề nghị của Tỉnh ủy Hải Dương, Trung ương Đảng đã chuẩn y thành lập một chiến khu thứ tư ở miền Bắc (thường có tên gọi là chiến khu Đông Triều, Đệ tứ chiến khu hay chiến khu Trần Hưng Đạo).
- Lực lượng vũ trang, bên cạnh tự vệ xã, thôn, tính chất đã là đội quân thoát ly. Vũ khí trang bị chủ yếu từ nguồn vận động hàng ngũ địch mang súng về cho cách mạng, như Đội Hiền ở Đông Triều nộp súng cho Việt Minh, hoặc tổ anh Lê Phú, thủy quân lục chiến mang 2 khẩu đại liên nộp cho Nguyễn Bình. Về sau, bằng cách đánh chiếm các đồn, trại địch, chiến khu đã thu về hàng nghìn khẩu súng các loại.
- Chỉ trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, chiến khu đã lập được chiến công lừng lẫy, phá hàng loạt đồn, thậm chí cả một tỉnh lỵ mà trước đây chưa từng có đã thể hiện một đội quân có kỷ luật, có tổ chức chặt chẽ, có tinh thần chiến đấu dũng mãnh, một sự chỉ huy táo bạo, kiên quyết, kịp thời nắm bắt thời cơ, linh hoạt trong xử trí tình huống, tiêu biểu là tướng Nguyễn Bình, một trong những người chỉ huy chiến khu. |
|
|