Trích từ tác phẩm: "Đảng lãnh đạo kinh tế và đảng viên làm kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ". Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2002, trang 12 - 21.
Từ sau khi miền Bắc được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp cho đến khi giải phóng miền Nam, chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược, với 10 năm thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội (1954 - 1985), Đàng lãnh đạo nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Qua 30 năm ấy, tình hình kinh tế nước ta đã diễn ra như thế nào?
Bắt đầu là cuộc cải cách dân chủ, trước hết trong nông nghiệp mà chúng ta gọi là "cải cách ruộng đất". Mục đích cuộc cải cách này là đem lại ruộng đất cho dân cày, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nông dân từ ngàn đời nay là "người cày có ruộng" nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển sản xuất, phá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến nông thôn, xóa giai cấp địa chủ, phú nông, tạo cho lực lượng sản xuất nông nghiệp bung ra để giải quyết vấn đề lương thực, tạo điều kiện cho nông dân làm giàu. Nhưng do nóng vội, muốn đưa nhanh quan hệ sản xuất mới vào nông nghiệp để thu hút đông đảo nông dân vào làm ăn tập thể một cách vội vàng, mệnh lệnh, trong khi trình độ quản lý của ta rất kém, công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công, con trâu cái cày; sau này có một số máy cày nhập ngoại... Nhưng do không biết quản lý cùng với tệ tham nhũng phát sinh, nên câu nói: "Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà" đã trở thành câu ví von trong dư luận xã hội, còn lao động trong hợp tác xã thì rong công, phóng điểm, ngày công không đáng là bao, có nơi chỉ có 150g thóc/ngày công. Cán bộ quản lý hợp tác xã làm ít hưởng công nhiều, làm cho hợp tác xã ngày càng nghèo, nông dân không phấn khởi sản xuất. Nhiều câu ca dao lưu truyền trong nồng thôn phê phán cán bộ xã, hợp tác xã thời đó như: "Mỗi người làm việc bằng hai. Để cho chủ nhiệm mua đài, mua xe", "Mỗi người làm việc bằng ba. Để cho chủ nhiệm xây nhà, xây sân"...
Từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với bộ máy cồng kềnh, sản xuất không hiệu quả, sau khi thống nhất đất nước, tổ chức bộ máy càng phình to. Do hậu quả chiến tranh kéo dài, Nhà nước phải ban hành nhiều chính sách ưu tiên ưu đãi mà hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất không phát triển, nông nghiệp vẫn đình đốn do cơ chế quản lý hợp tác xã kiểu cũ, công nghiệp củng không phát triển… Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế mệnh lệnh, chỉ huy bao cấp, làm được bao nhiêu đều được phân phối theo giá thấp hơn giá thành, hoặc có lãi không đáng kể. Do đó, nền kinh tế hầu như không có tích lũy; chu kỳ sản xuất sau ngân sách Nhà nước lại phải bù cho doanh nghiệp mới có thể sản xuất được một lượng hàng hóa như chu kỳ trước ít thấy có doanh nghiệp chu kỳ kế hoạch sau tăng hơn chu kỳ trước; còn kế hoạch Nhà nước có tăng hàng năm bao nhiêu phần trăm còn lệ thuộc vào Liên Xô và các nước anh em viện trợ cho vay nhiều hay ít. Bởi vậy, trước khi lập kế hoạch hàng năm, khoảng quý III năm trước, Nhà nước ta đã phải cử các phái đoàn sang các nước anh em đàm phán, xem họ cho vay và viện trợ được bao nhiêu, khi có kết quả cụ thể ở trong nước mới làm kế hoạch cho năm sau... Vì thế trong thời gian đó mới có câu nói cửa miệng là "ông Nghị vác bị đi xin..."1 (Đồng chí Lê Thanh Nghị là một nhà cách mạng lớn của Đảng và Nhà nước ta, nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, người ký Chỉ thị số 100/BBT tháng 1-1981 cho mở rộng khoán sản phẩm trong toàn quốc). Đồng chí Lê Thanh Nghị là người kiên nhẫn ít nói, chịu đựng gian khổ, có lần sang Liên Xô, một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chú tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tiếp và có nói: Đồng chí Việt Nam cần những gi thì nói thôi... Nhưng anh Nghị vẫn nói đầy đủ những vấn đề mình chuẩn bị, nói hàng tiếng đồng hồ, phía Liên Xô nếu chưa đáp ứng đúng yêu cầu, thì anh Nghị xin gặp cấp cao hơn nhằm bảo đảm đủ số lượng đã dự kiến từ ở nhà. Một câu chuyện do đồng chí Phạm Hùng, nguyên Thủ tướng Chính phủ kể với tôi: "Anh Nghị không những là cán bộ lãnh đạo có tâm huyết, mà còn là người đồng chí rất kiên cường trước kẻ thù. Khi bị Pháp giam tù ở Côn Đào với tôi, mỗi khi xếp hàng vào san (salle) tù để ngủ, bọn cai ngục dùng dùi cui đánh đập anh em, anh Nghị bao giờ cũng đi sau cùng, đi rất đàng hoàng, không bao giờ chạy, xô đẩy anh em, địch càng đánh anh Nghị càng đi chậm rãi, không ngó qua ngó lại, cứ bình tĩnh đi bình thường như không có việc gì xảy ra".
Những con người như thế, khi nước mất nhà tan, khi bị tù đày, phẩm giá con người bị chà đạp, đã đem dũng khí của mình để đáp lại đòn tra tấn dã man của quân thù; khi đất nước vắng bóng quân thù thì phụ trách kinh tế, lúc chưa tìm được cách làm như thế nào để đạt hiệu quả, cho dân được ấm no, thì nhẫn nhục kiên trì đi xin viện trợ để có nguyên liệu sản xuất, phục hồi kinh tế, xây dựng kinh tế, có gạo, có mì cho dân, ăn...
Tôi nhớ thời kỳ anh Nghị chuẩn bị ký Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, anh đã xuống Hải Phòng kiểm tra tình hình sản xuất nông nghiệp, xem thực tế của Hải Phòng ra sao, anh nghe báo cáo rất tỉ mỉ. Anh em chúng tôi có 4 người, gồm anh Hữu Thọ, anh Chương - Phó Văn phòng Trung ương, anh Hồng Chương chuyên viên và tôi viết dự thảo Chỉ thị 100 cho Ban Bí thư. Anh Nghị rất thận trọng, xem đi xem lại từng chữ; sau khi Chỉ thị được thực hiện 6 tháng, anh Nghị gọi tội lên hỏi, Chỉ thị 100 thực hiện thế nào mà nhiều người nói quá! Chú xem có gì không mà họ kêu thế! Tôi báo cáo với Anh là, Anh yên tâm, mọi việc ở Hải Phòng đều tốt cả, vừa qua tôi có đi mấy tỉnh nông nghiệp, nông dân phấn khởi, sản xuất vui vẻ. Chị Thanh (phu nhân anh Nghị) nói chen vào: "Anh ở trên này lo lắm, cứ bảo gọi chú lên hỏi xem sao, chắc hôm nay nghe chú báo cáo Anh yên tâm...". Năm 1989, Việt Nam xuất khẩu 1,6 triệu tấn gạo, tôi là Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, ký xuất khẩu chuyến gạo đầu tiên, tôi đến báo cáo anh Nghị (lúc này Anh đã nghỉ, sức khỏe đã yếu), Anh phấn khởi lắm! Nhưng Anh rưng rưng nước mắt, tôi nghĩ chắc Anh xúc động lắm, thấy đất nước không phải đi chạy ăn từng bữa, hết anh Nghị đi nước ngoài xin mì, anh Đỗ Mười chạy gạo trong nước, anh Đồng Sĩ Nguyên điều động phương tiên giao thông, điều động nơi thừa sang nơi thiếu hết sức vất vả - sang năm 1990 xuất gạo được nhiều hơn và cuối năm 1990, anh Lê Thanh Nghị của chúng ta qua đời. Một con người bị địch tra tấn không hề có tiếng kêu, không khai báo một lời có hại cho cách mạng, khi nghe dân no, có đủ lương thực thì khóc - người cộng sản là như thế đó...
Đảng ta, trước hết là các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng lúc nào cũng vì nhân dân mà phục vụ.
Đặc điểm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ờ miền Bắc nước ta trước đây là vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa đấu tranh giải phóng miền Nam, cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ to lớn và khó khăn. Đó là thời kỳ Đảng ta phải vận dụng hai quy luật khác hẳn nhau, phía này thì xây, phía kia phải chống. Chỉ có trí tuệ Việt Nam mới bảo đảm được thắng lợi của cả hai chiến lược cách mạng đó. Nói như vậy không phải là ta tự kiêu về thành quả của mình, mà để biết mình biết người, tranh thủ thời gian, tranh thủ bè bạn năm châu bốn biển ủng hộ mình, phân hóa kẻ thủ, tạo thế tạo đà cả về chính trị, kinh tế, thực hiện lý luận bốn mũi giáp công, ba vùng chiến lược... để đi đến quyết sách cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong thời kỳ đó, Đảng ta xác định chính sách kinh tế ở miền Bắc phải làm gì, khu giải phóng miền Nam làm gì, và khu địch hậu làm gì... Đó là kế sách, phải thông minh mun lược, bảo đảm hậu cần cho chiến trường. Đó là những thời gian mà trí tuệ Việt Nam đã được phát huy cao độ và đã thắng lợi trước nhứng khó khăn, thử thách ác liệt nhất. | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 14« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2022, 07:57:14 am » | Song, kinh nghiệm làm kinh tế của lịch sử để lại không nhiều. Tư tưởng "trọng nông, khinh thương" của cha ông để lại, cùng với việc tiếp thu lý luận Mác - Lênin duy ý chí và giáo điều đã ngẫu nhiên phù hợp với nhau, làm cho cuộc cách mạng ruộng đất vốn đơn giản, nhưng lại trờ nên rất phức tạp. Từ khẩu hiệu tả khuynh trước năm 1930 để lại: "trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" đến tư duy xóa bỏ giai cấp địa chủ, dù nam hay nữ, ngay cả một số địa chủ kháng chiến, đã hiến ruộng đất hay địa chủ kiêm công thương gia. Do đó, mặc dù Luật cải cách ruộng đất đều có chiếu cố đúng mức, nhưng đến khi thực hiện thì lại cho rằng, "hổ đực hay hổ cái đều ăn thịt người cả..." nên đã làm quá tả, dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, phải sửa sai vô cùng gian khổ. Bác Hồ phải đứng ra xin lỗi đồng bào, lại một tư tưởng lớn vì dân vì nước xuất hiện khi giải phóng được nửa nước, biết bao gian nguy để có ngày hạnh phúc. Người đáng được hưởng hạnh phúc đầu tiên lại là người phải gánh chịu lỗi lầm của tư tưởng tả khuynh, giáo điều, sao chép kinh nghiệm, xa rời thực tế, đem lại sự bất hạnh cho Người. Nhưng Người vẫn là Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc vì Người là mẫu mực, thấy sai phải sửa, nói đi đôi với làm, nên sai lầm trong cải cách ruộng đất tuy rất nghiêm trọng nhưng lòng dân đã sớm yên vì Người nói sửa sai là sửa ngay. Đó cũng là điều chúng ta phải lấy đó răn mình, làm kinh tế phải sâu sát, phải tính toán hiệu quả. Vì tất cả đều là xương máu của đồng bào, đồng chí, là mồ hôi nước mắt của mọi thành viên trong xã hội.
Sai trước được sửa, thì sai sau lại đến. Nhưng lần này sửa sai sau nhẹ nhàng hơn, không như mức độ sai lầm trong cải cách ruộng đất, máu chảy đầu rơi; mà thực chất là ấu trĩ tả khuynh, làm mà không biết kết quả cụ thể ra sao! Với nỗi niềm lo lắng là phải làm ăn tập thể, phải cùng chung sức, chung lòng cùng làm, nghe ra ai cũng thấy hay và đều muốn theo điều mong ước tốt đẹp đó, nhưng còn hệ quả ra sao thì mọi người không ai biết trước được. Đó cũng là điều dễ hiểu, vì đã có mô hình nào đấu, mà vừa làm vừa tìm hiểu. Chúng ta đã sai lầm ở chỗ làm ồ ạt, không tuân theo quy định, nguyên tắc đã đề ra là: tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ... Chúng ta nói không đi đôi với làm, muốn đốt cháy giai đoạn, mà lúc đó ai cũng cho là phải, cần tập trung nhanh tài sản, ruộng đất vào hợp tác xã để cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thời bấy giờ, chẳng ai dám nhận là tài giỏi, dù đã có người đi nghiên cứu nước bạn, nhưng khi về chỉ nói hay thì ai chẳng muốn! Đến khi nhìn thấy sản xuất không tăng, ruộng bỏ hoang hóa, lúa chín đầy đồng không ai ra gặt, đói thì cứ đói, khi hết viện trợ về lương thực thì ta mới thực sự tỉnh ngộ. Nhưng thấy rõ thực trạng đó là ở cấp cơ sở, còn trên tỉnh, thành phố, Trung ương thì lại có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau, không thống nhất cách giải quyết, từ đó mới sinh ra khoán chui khoán lủi để "tự cứu mình" khỏi chết đói.
Trước tình hình ngày càng khó khăn gay gắt, viện trợ lương thực hết, ngoại tệ để nhập lương thực không còn, những đồng chí lãnh đạo chủ chốt lúc đó là những nhà lý luận, nhà thực tiễn nổi tiếng nên dễ nhận thấy điều bất hợp lý và vô lý, vì một nước nông nghiệp lại không có gạo ăn, dân phải khổ sở, đã có người chết đói. Đó là những hình ảnh trực quan đau buồn, day dứt lương tâm nhưng nhà cách mạng lão luyện, mẫn cảm lúc bấy giờ để quyết tâm tìm ra những giải pháp mới để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, tôi đã báo cáo với anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư lức đó) về khoán sản phẩm nóng nghiệp ở Hải Phòng. Anh Ba nghe 3 giờ đồng hồ. Sau khi tôi trình bày và phân tích, anh Ba đã đồng ý ngay và nói: "Đúng rồi, làm đi, làm đi, không phải hỏi ai nữa...". Nói lại câu chuyện này để chúng ta thấy tính nhạy bén, sáng tạo, minh mẫn của Tổng Bí thư của ta đến nhường nào! Nhưng tôi hiểu, trong lúc này (1979 - 1980), khi bàn định những quyết sách của đất nước là do ba đồng chí chủ chốt, là anh Ba, anh Năm (đồng chí Trường Chinh), anh Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng) bàn bạc và quyết đinh, nhất là vấn đề hóc búa này. Tuy tôi đã biết, có lúc đồng chí Trường Chinh đã phê phán đồng chí Kim Ngọc - Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú (năm 1966) về khoán trong nông nghiệp, nhưng tôi nghĩ anh Trường Chinh cũng là nhà lý luận, nhà thực tiễn lớn đã vì dân vì nước mà làm cách mạng, nên tôi cứ mạnh dạn báo cáo với anh Trường Chinh (dù đã có ý kiến anh Ba), vì nếu anh Trường Chinh không đồng ý, cũng khó mở rộng ra cả nước. Nếu tôi cứ làm chui lủi, chỉ được một bộ phận nhân dân có gạo ăn, mà việc làm lại phi pháp. Từ suy nghĩ đó, tôi đã kiên trì báo cáo với anh Trường Chinh năm lần, và mời anh về Hải Phòng xem thực tế. Đến lần thứ 5 thì Anh không những chỉ đồng ý, mà còn động viên: "đồng chí đã nắm được thực tế, nắm được lý luận, đồng chí cố gắng làm để thành hiện thực cho cả nước...". Hai anh đã đồng ý rồi nhưng cũng có lúc anh Trường Chinh còn phân vân, có lần anh nói hơi gay gắt với tôi. Tôi lại đến báo cáo với anh Tô. Anh Tô rất chú ý lắng nghe, và hỏi tôi ý anh Ba và anh Trường Chinh thế nào, tôi báo cáo với anh Tô là anh Ba đồng ý rồi, anh Trường Chinh chưa trả lời, mới chỉ nghe tôi báo cáo và đi xem thực tế, tôi sẽ đến báo cáo tiếp với anh Trường Chinh. Anh Tô không nói gì, nhưng thái độ tỏ ra vui. Tôi nghĩ, anh Tô đã đồng ý, nhưng còn đợi ý kiến anh Trường Chinh để cho cả ba anh chủ chốt trong Bộ Chính, trị cùng đồng ý. Đó chính là thời kỳ đổi mới quyết định trong nông nghiệp để cho ra đời Chỉ thị 100 cua Ban Bí thư tháng 1-1981 và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về khoán trong nông nghiệp mà ngày nay ta thường gọi là khoán 10.
Còn một tình tiết trong chỉ đạo mà tôi muốn nhắc đến đó là cuộc họp sơ kết khoán sản phâm trong nông nghiệp tới xã viên ở Hải Phòng và phổ biến Chỉ thị 100 của Ban Bí thư. Cuộc họp quan trọng này được tổ chức tại Hải Phòng do đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chủ trì hội nghị. Trong hội nghị này, cũng có đại biểu chưa thông với Chỉ thị 100, có những ý kiến nói ngược lại. Nhưng khi kết luận hội nghị, đồng chí Võ Chí Công nói: "Khoán là đúng rồi, các đồng chí đừng sợ, nếu khoán làm cho trời sụp đổ, tôi sẽ chịu trách nhiệm...". Trong những bước ngoặt lịch sử trong chiến tranh cũng như trong hòa bình xây dựng kinh tế, phải có những đồng chí dám quyết đoán như vậy mới đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng vượt qua được khó khăn, có lúc khắc nghiệt, nếu do dự kéo dài, chỉ khổ cho nhân dân, gây tổn thất cho cách mạng.
Lúc đó nếu không có sự thống nhất của ba đồng chí lãnh đạo chủ chốt, để dẫn đến sự thống nhất trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mở đầu cho công cuộc đổi mới của Việt Nam chuyển dần sự chỉ đạo kinh tế của Đảng ta từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, sẽ có sự chậm trễ mà hậu quả sẽ không lường được. Nhất là sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ta không còn viện trợ về mọi mặt, đặc biệt là lương thực cho lực lượng vũ trang, cán bộ công nhân viên chức và lao động phi nông nghiệp thì tình hình nước ta sẽ ra sao?
Khi nền nông nghiệp bắt đầu chuyển đổi cơ chế quản lý thì Đảng và Nhà nước đã từng bước chuyển đổi cơ chế trong công nghiệp với 3 phần kế hoạch, dần dần làm cho sản xuất công nghiệp khôi phục và khởi sắc. | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 14« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2022, 07:58:01 am » | VỀ NGHỊ QUYẾT SỐ 24-NQTU CỦA BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY HẢI PHÒNG
BAN BIÊN TẬP
Về Nghị quyết quan trọng này, trong cuốn "Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng tập 3 năm 1975 - 2000" do Nhà xuất bản Hải Phòng năm 2002, đã viết tóm tắt như sau:
Ngày 27-6-1980, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ra Nghị quyết số 24-NQTU về "Củng cố hợp tác xã nông nghiệp nhằm đấy mạnh sản xuất lương thực thực phấm". Nội dung chủ yếu của Nghị quyết là cải tiến quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, gắn trách nhiệm của người lao động đến sản phẩm cuối cùng.
Nghị quyết 24-NQTU ra đời là kết quả của gần một năm nghiên cứu thực tiễn trước yêu cầu cấp thiết đổi mới cách quản lý trong nông nghiệp của lãnh đạo thành phố và một số huyện.
Khoán sản phẩm tạo sự thống nhất giữa trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước, tập thể và người lao động. Hình thức trả công lao động này phù hợp với nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng phân phối bình quân, định suất không hợp lý với đặc điểm sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thủ công với điều kiện khả năng của kinh tế tập thể ở thời kỳ này của nước ta. Vì vậy nó đã phát huy cao tính tự giác trong lao động, nêu cao trách nhiệm cá nhân của người lao động với sản phẩm cuối cùng.
Cơ chế khoán mới tạo ra động lực lớn với ý nghĩa trao quyền làm chủ trực tiếp cho xã viên, tăng cường huy động các nguồn lực sẵn có, phát huy tác dụng trong sản xuất và đời sống ở nông thôn.
Việc thực hiện "Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động'' ở Hải Phòng được Trung ương và các địa phương trong cả nước chú ý. Trước nhưng suy thoái về kinh tế, trong đó có nòng nghiệp, từ thực tế Vĩnh Phú và Hải Phòng, Trung ương Đảng đã nghiên cứu rút kinh nghiệm và xây dựng cơ chế khoán mới trong công nghiệp. Ngày 18-1-1981, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị 100 CT/TW về: Cải tiến công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp".
Tiếp đến, tháng 4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQTW về đổi mới quản lý nông nghiệp (thường gọi là khoán 10).
Theo phần phụ lục của cuốn "Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng", chúng tôi giới thiệu danh sách Ban Thường vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa 7 (từ tháng 7-1979 đến tháng 1-1983) đã ra Nghị quyết 24-NQTU ngày 27-6-1980 như sau:
1 Bùi Quang Tạo Bí thư Phó Bí thư 2 Đoàn Duy Thành Phó Bí thư thường trực 3 Nguyễn Văn Bút Ủy viên Thường vụ 4 Trần Thắng - nt - 5 Hoàng Xuân Lâm - nt - 6 Nguyễn Dần - nt - 7 Lê Thành Dương - nt - 8 Võ An Đông - nt - 9 Trịnh Thái Hưng - nt - 10 Nguyễn Mạnh - nt - 11 Lê Danh Xương - nt -
Theo Ban biên tập chúng tôi, vào thời điểm năm 1980 thì đồng chí Nguyễn Văn Bút đã về hưu trí và đồng chí Nguyễn Mạnh đã từ trần.
Chủ trì và nòng cốt ra Nghị quyết 24-NQTU là đồng chí Bí thư Bùi Quang Tạo và đồng chí Phó Bí thư Đoàn Duy Thành. | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 14« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2022, 07:59:30 am » | ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HẢI PHÒNG VÕ AN ĐÔNG (Nguyên Tư lệnh BTL 350)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ xưa tới nay vẫn dành cho LLVT Hải Phòng một sự chăm sóc ân cần và một mối tình cảm đặc biệt.
Từ trước và trong thời chống Mỹ, có lẽ do vị trí đặc biệt trong phòng thủ bờ biển của quốc gia, nên đã được Đại tướng - Tổng Tư lệnh săn sóc nhiều tới lực lượng vũ trang Hải Phòng. Sau đây, với tư cách là Tham mưu trưởng, sau là Tư lệnh BTL 350 (HP), đã nhiều lần tiếp xúc, tôi xin kể lại một số sự kiện qua một số bút tích và hình ảnh lịch sử hiện vẫn còn do bản thân tôi hoặc nhà truyền thống của BCHQS Hải Phòng còn lưu giữ được để nói lên sự quan tâm và tình cảm của Đại tướng đối với LLVT Hải Phòng.
Từ trước năm 1965, Đại tướng xem đại đội 6, tiểu đoàn 8, trung đoàn 50 tập chạy toàn đại đội rất nhanh và có kỷ luật nên Người đã khen ngợi: "Đại đội chạy nhanh như gió". Từ đó, cho đến cả ngày nay, đại đội được mệnh danh là "Đại đội gió" vẫn luôn giữ truyền thống thể dục, thể thao. Ngày 20-11-2001, sau khi trung đoàn 50 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tướng lại đến thăm, nghe chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình đơn vị và tỏ ý khen ngợi trung đoàn từ thời chống Pháp và thời chống Mỹ đã lập nhiều chiến công, xứng đáng với danh hiệu Anh hùng mà Nhà nước vừa ban tặng.
Khoảng năm 1966, Hải Phòng bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, đồng chí Đỗ Chính lúc đó là chính ủy BTL 350, đã hướng dẫn Đại tướng lên chòi cao để quan sát trận địa ở nội thành và nhận chỉ thị phải đánh trả máy bay địch và công tác phòng không nhân dân, giữ gìn tiềm lực của nhân dân và hết sức chi viện cho chiến trường miền Nam.
Trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ mở một trận tập kích chiến lược bằng không quân chủ yếu đánh vào Hà Nội và Hải Phòng, nhưng chúng đã bị thất bại rất nặng nề buộc phải ngừng ném bom vào ngày 30-12-1972, và đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri vào ngày 27-1-1973.
Sau ngày 30-12-1972, Đại tướng đã về Hải Phòng để kiểm tra sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí Đỗ Chính, chính ủy BTL 350, đã báo cáo trên bản đồ về kế hoạch và kết quả chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố Bao cáo đại ý: Ngay từ khi bắt được tín hiệu địch sẽ bắn phá đêm 17-12 Ban quân sự Thành ủy đã hạ lệnh sơ tán khẩn cấp cho trên 10 vạn dân sơ tán ra khỏi nội thành và tất cả các lực lượng vũ trang phải ở tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Trong 12 ngày đêm, đêm và ngày nào địch cũng đánh phá (trừ đêm 25-12 là lễ Nôen), ác liệt nhất là đêm 19-12 và đêm 26-12-1972, chúng sử dụng cả máy bay B52 thả bom rải thảm trên đường 5, khu vực Thượng Lý, Sở Dầu và phố Trần Nguyên Hãn. Các lực lượng vũ trang của ta đã hiệp đồng chặt chẽ, bắn trả địch rất ròn rã, kết quả ta đã bắn rơi 17 máy bay (có 4 máy bay B52) trong tổng số 81 máy bay của cả Hà Nội và Hải Phòng trong suốt đợt và Hải Phòng đã bắt sống được một số giặc lái, đã kịp thời đưa giải lên Hà Nội trình diện tại cuộc họp báo có cả phóng viên nước ngoài, thiết thực góp vào cuộc đấu tranh ngoại giao, gắn chặt với đấu tranh quân sự. Về công tác phòng không nhân dân, thực hiện lệnh "sơ tán khẩn cấp" ngày 17-12, trước 1 ngày địch mở trận tập kích chiến lược công tác thông báo, báo động được kịp thòi đảm bảo cho cán bộ và dân sinh hoạt bình thường trong thòi chiến, công tác an ninh trật tự vẫn được duy trì tốt đẹp.
Về đảm bảo giao thông, thì nhờ có dự trữ từ trước các vật liệu cát, đá, sỏi nên ta đã san lấp các hố bom trên đường số 5, một thời gian vài hôm đã thông xe. Việc chống phong tỏa trên biển đã được lực lượng Hải quân, tự vệ của ngành đường biển và dân quân địa phương vẫn kiên trì rà phá thủy lôi, cơ bản đã thông luồng lạch, có thể đảm bảo tàu quốc tế ra vào Cảng sau khi ký hiệp định Pari.
Đại tướng tỏ ý khen ngợi quân dân Hải Phòng đã thiết thực hiệp đồng với Hà Nội, lập nên "Điện Biên Phủ trên không". Nhưng đồng chí cũng nhắc nhở miền Nam còn chưa được giải phóng nên miền Bắc trong đó có Hải Phòng còn phải lo chi viện đủ số lượng và chất lượng cho miền Nam. Đồng chí cũng chỉ thị một khi hiệp định Pari được ký kết thì Hải Phòng phải lo giải quyết hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề và phải làm kinh tế kết hợp với quốc phòng đỡ gánh nặng cho đất nước.
Về Nhà khách thành phố, Đại tướng đã hội đàm với Bí thư Thành ủy là Trần Kiên. Ngoài việc chung ra, đồng chí Trần Kiên báo cáo một cách tự hào về sáng kiến lập ra Ban quân sự Thành ủy từ tháng 12-1965, do Bí thư Thành ủy trực tiếp làm trưởng ban. Ban quân sự Thành ủy về thực chất là cơ quan thường trực của Thành ủy về chỉ đạo chiến đấu và phục vụ chiến đấu, làm nhiệm vụ điều hòa và phối hợp với các đơn vị trên địa bàn. Ban quân sự đã phát huy tác phong rõ nhất trong đợt 12 ngày đêm vừa qua trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Tiếp theo, Đại tướng đã cùng với BTL 350 xuống tại chân núi Cột Cờ (Kiến An) gặp mặt cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, biểu dương đơn vị đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ bảo vệ sân bay Kiến An, nhắc nhở đơn vị rằng miền Nam lúc đó còn chưa giải phóng, đơn vị phải sẫn sàng đợi lệnh đi chi viện chiến trường.
Sau đó, Đại tướng xuống tại trận địa pháo 100mm của trung đoản tự vệ Cảng Hải Phòng. Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại, hỏa lực của tự vệ Cảng Hải Phòng đã hòa cùng lưới lửa phòng không của thành phố, bắn rơi nhiều máy bay, đặc biệt trong 12 ngày đêm năm 1972, pháo cao xạ 100mm đã hiệp đồng với hỏa lực tầm cao của sư đoàn 363 bắn rơi một máy bay B52. Ngoài ra, cán bộ, công nhân, tự vệ Cảng đã ngoan cường rà, phá thủy lôi. Về sau này được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình khoa học "phá thủy lôi và bom tứ trường, từ năm 1965 đến 1972" và được tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Đến nay, Đại tướng, tuy đã thôi giữ trọng trách trong Đảng, Nhà nước và quân đội, song ảnh hưởng và uy tín của Người vẫn còn sâu đậm trong quân và dân ta, đặc biệt là đối với cán bộ chiến sĩ đường 5 và Hải Phòng vẫn luôn kính trọng và trìu mến vẫn coi Đại tướng vẫn là "Người anh cả của quăn đội nhân dân" như những ngày nào. Vì thế, tháng 8 năm 1998, Ban biên tập sách "Đường 5 anh dũng quật khởi” đã vinh dự được gặp Đại tướng trong một căn nhà, được coi nhà bảo tàng riêng của Người, đã chứa đủ các bức trướng, những tấm ảnh, nhưng kỷ vật quý giá của các đơn vị và địa phương trong toàn quân gửi tặng. Ban biên tập kính tặng Đại tướng 4 tập đầu của sách "Đường 5 anh dũng quật khởi" được chụp ảnh chung với Đại tướng và nhận được lời hứa sẽ giới thiệu cho cuốn sách. Chỉ một tháng sau chúng tôi đã nhận được lời giới thiệu, xin trích đăng - toàn văn lời giới thiệu đó đã được đăng trên trang đầu của tập 5 của tập: "Đường 5 anh dũng quật khởi" xuất bản năm 1998: "Đường 5 đã được Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh tuyên dương là "mặt trận điền hình nhất đánh vào địch hậu". Những bài học kinh nghiệm chiến đấu của quân dân đường 5 có giá trị vô cùng quý báu. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến trường đường 5 trải dải trên một diện rộng, đã diễn ra nhiều trận đánh giỏi, nhiều gương chiến đấu ngoan cường, dũng cám, nhiều, cách đánh địch mưu trí táo bạo... chưa được ghi lại. Những nhân chứng sống của thời đánh Pháp ở địa phương thưa vắng dần, cần kịp thời có kế hoạch khẩn trương khai thác. Tôi hoan nghênh các cán bộ quân đội từng giữ những cương vị lãnh đạo, chí huy các lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Pháp ở địa phương nay đã nghỉ hưu, đứng ra tổ chức biên soạn bộ sách nhiều tập nói về cuộc chiến đấu ở đường 5". |
|
|