TRÊN ĐƯỜNG 5, HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN RÁO RIẾT CHUYỂN SANG THỜI CHIẾN VÕ AN ĐÔNG
Hồi đó, tôi đang làm Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Yên Mỹ, thuộc tỉnh Hưng Yên (cách Hải Phòng 80 km) đã sớm nhận được chỉ thị cấp trẽn phải nhanh chóng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc.
1- Động viên toàn dân, mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi tôn giáo, mọi già trẻ, gái trai hiểu rõ là thực dân Pháp mới được trở ra miền Bác, theo hiệp ước ký ngày 6-3-1946 đã thực sự có âm mưu xâm lược lần thứ 2 đất nước Việt Nam. Sự kiện Hải Phòng đang xảy ra sẽ là bước tiếp theo tất yếu của âm mưu đó.
Để đối phó lại, ta phải nhất tề đứng dậy chống thực dân Pháp xâm lược, ta phải tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng. Cuộc kháng chiến sẽ chia làm 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và phản công.
2- Thiết lập Ủy ban bảo vệ các cấp từ tỉnh, thành phố, huyện và khu phố, tới cấp xã, tức là cơ quan kháng chiến tại các địa phương, chuyên lo đảm bảo các mặt kháng chiến về chỉ đạo quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội chống lại thực dân Pháp. Hải Phòng, bắt đầu từ ngày 20-11-1946, ngày mở đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đã xuất hiện Ủy ban bảo vệ thành phố Hải Phòng do đồng chí Đinh Thịnh làm chủ tịch. Ủy ban bảo vệ thành phố tồn tại song hành với Ủy ban hành chính thành phố lúc đó do đồng chí Vũ Quốc Uy làm Chủ tịch. 3 tháng sau khi kháng chiến bùng nổ 19-12-1946, Ủy ban bảo vệ lại được tổ chức hợp nhất với Ủy ban hành chính gọi là Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính tỉnh, huyện, xã, về sau lại bỏ chữ kiêm, gọi là Ủy ban kháng chiến - hành chính tỉnh (huyện, xã...), ở giữa chữ kháng chiến và hành chính có gạch ngang giữa. Ủy ban kháng chiến - hành chính sẽ tồn tại trong suốt quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là một cơ quan quyền lực của Nhà nước, vừa đảm bảo tính nguyện vọng của toàn dân muốn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, vừa đảm bảo tính pháp lý, phản ánh quyền lực mọi mặt về chính trị, xã hội đối với toàn dân.
Ủy ban bảo vệ huyện Yên Mỹ phải thực hiện gấp rút một số việc sau đây:
a) Đưa mọi hoạt động của huyện từ thời bình sang thời chiến, đưa các hoạt động của toàn dân, cái nào xét ra không có lợi cho kháng chiến thì kiên quyết phế bỏ, không thương tiếc.
b) Nhanh chóng, gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang của huyện và xã. Hồi đó, ở cấp huyện không tổ chức lực lượng vũ trang, chì có 6 đến 10 chiến sĩ được gọi là cảnh vệ, được tổ chức ra để bảo vệ doanh trại, trụ sở của Ủy ban hành chính huyện hoặc phải về các xã làm mọi công việc của huyện, thì nay được điều về tỉnh để xây dựng các đơn vị võ trang của tỉnh sau này được mệnh danh là đại đội Hoàng Văn Thụ (C22 hoặc C92), đại đội Thanh Bình (C14), đại đội Lâm Kim Lương (C20), đại đội Vũ Hổ (C27). Do đó, với ý nghĩa cấp huyện cần phải tự xây dựng lực lượng vũ trang của mình để bảo vệ cấp huyện và cấp xã, nên lại tổ chức một đơn vị nhỏ gọi là trung đội tự vệ tập trung huyện, kinh phí không do nhà nước cấp phát, mà do huyện tự lo phân bổ về các xã vận động nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào tháng 3-1947, Chính phủ và Bộ Quốc phòng mới quyết định chính thức đường lối xây dựng lực lượng vũ trang cả nước. Đó là toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, gồm 3 thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, và mới có thể chế bộ đội địa phương; lúc đó lực lượng du kích tập trung lại thành lập bộ đội địa phương cấp huyện. Tại huyện Yên Mỹ, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, hồi đầu năm 1947, giặc Pháp triển khai đánh chiếm đường số 5 để nối thành phố Hải Phòng với Hà Nội, huyện chỉ có trung đội du kích tập trung nhưng đã lên chiến đấu ở cầu Gềnh (Như Quỳnh) bảo vệ đường số 5. Sau đó mới chuyển phiên hiệu là bộ đội địa phương và Đại đội 110 (Đại đội Bãi Sậy) chiến đấu gian khổ, kiên trì bám trụ trên địa bàn huyện cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Xây dựng lực lượng vũ trang xã lấy tến là lực lượng tự vệ ở xã, thôn (danh từ dân quân du kích chỉ mới xuất hiện và được chính thức sử dụng từ tháng 3-1947, sau mấy tháng toàn quốc kháng chiến). Mỗi xã có từ một tiểu đội đến trung đôi trang bị rất nghèo nàn, anh em chỉ được rèn các loại ma tấu giáo mác, dao găm, họa hoằn xã có phái người xuống Hải Phòng mua một vài khẩu súng trường do Tàu Tưởng rút ở trong kho dự trữ hoặc tước được của quân Nhật mà có. Nhưng đến khi xảy ra “sự kiện Hải Phòng" ngày 20-11-1946 thì nguồn đó không còn nữa nên chỉ còn cách là đi thu nhặt các quả bom mìn bị thối đem về chế tạo các loại mìn tự tạo hoặc nhồi kíp các vỏ đạn cũ thành những, đạn mới cho súng; trường đang rất thiếu đạn. Nhưng, thực tế các loại bom mìn, đạn tự tạo tuy còn có tác dụng nhưng hiệu quả rất kém.
Cán bộ xã, lực lượng vũ trang lại được chỉ thị và hướng dẫn làm hầm bí mật để đảm bảo việc bám dân, bám đất, bám cơ sở, thực hiện kháng chiến lâu dài. Việc đào hầm bí mật đã được phổ biến cho các xã thực hiện thành phong trào, không làm theo một mẫu hình duy nhất mà theo từng xã, thôn, theo địa hình cự thể từng nơi xây dựng nên. Kết quả hầm bí mật có tác dụng duy trì được tiềm lực kháng chiến cho đến khi kết thúc chiến tranh. Nhưng cũng không tránh khỏi một số nơi lực lượng ta bị tổn thất về cán bộ kháng chiến và lực lượng bộ đội, du kích do địch đã càn vào làng, tiến hành móc hầm hoặc do có chỉ điểm, mật thám, làm thiệt hại lực lượng chiến đấu của ta.
c) Ta đã động viên toàn dân trong huyện tiến hành phá hoại triệt để các cầu cống, đường xá như cầu Như Quỳnh, cầu Lực Điền v.v..., và đường số 5, đường 39 đi qua huyện. Con đê như đê sông 199 đã tiến hành đắp ụ trên đê với mục đích ngăn chặn xe cơ giới và quân bộ binh địch không thể lợi dụng đi qua. Về nhà cửa thì bất cứ có nhà xây hai tầng trở lên đều vận động phá cho hết.
Ngoài ra, vận động dân ở đô thị Hà Nội và thị trấn Bần Yên Nhân, thị trấn huyện, v.v... thực hiện “vườn không nhà trống” triệt để đi tản cư hết, đại bộ phận dân cư đi tản cư về khu Việt Bắc và khu 4.
Đường lối xuất phát từ thực tế lực lượng 2 bên, về phía địch thì rất mạnh cả về binh lực, cả về vũ khí, trang thiết bị lẫn kinh nghiệm cai trị dân ta; còn về phía ta thì rất yếu cả về trang bị và ấu trĩ trong điều hành đất nước, nhưng sau đó diễn biến chiến tranh sẽ đi ngược lại, ta nhất định sẽ thắng, mà địch rồi sẽ bị thua.
Đường lối chiến tranh là: Kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, nhất định thắng lợi.
Tính chất cuộc chiến tranh là: Toàn dân, toàn diện, lâu dài cả về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, binh vận đấu tranh giành dân, giữ dân.
Đường lối xây dựng lực lượng vũ trang là: Toàn dân đánh giặc, lấy 3 thứ quân làm nòng cốt. Toàn dân là không kể già, trẻ, gái, trai, thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo. Ba thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, mỗi thứ quân đều có vị trí chiến lược kết hợp giữa lực lượng tại chỗ và cơ động. | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 20« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2022, 07:44:08 pm » | HẢI PHÒNG ĐI TRƯỚC (20-11-1946), VỀ SAU (13-5-1955) TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG PHÁP VÕ AN ĐÔNG
Ngày 20-11-1946 bắt nguồn từ sự kiện Pháp muốn kiểm soát ngành thuế quan, tranh chấp với người Việt, đã nổ súng vào quân Việt ở phía sông Tam Bạc, gây ra chiến sự. Sự kiện Hải Phòng bắt đầu từ ngày 20-11-1946.
Cuộc chiến đã xảy ra rất ác liệt trong phạm vi 7 ngày cho tới ngày 26-11-1946 theo lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố (thực chất là Ủy ban kháng chiến thành phố), lực lượng của ta rút sang Kiến An. Trong 7 ngày chiến đấu ác liệt, có 1 ngày tạm ngừng bắn (ngày 22-11) do có phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đại diện là ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, can thiệp và điều đình với bên Pháp là tướng La-mi, nhưng do bên Pháp giữ nguyên lập trường của mình là cố tình gây ra trận chiến, cho nên cuộc điều đình đó không thành. Ngày hôm sau (23-11-1946) súng lại nổ. Cuộc chiến đấu lại tiếp tục. Sau khi rút khỏi nội thành, quân ta lại hợp thành mặt trận A, B, C bao vây quân Pháp.
Lực lượng bố trí ở phía tây nam cầu Rào, cầu Niệm. Ở phía tây cầu xe lửa, ta cầm cự tới ngày 25-4-1947 thì Pháp đánh chiếm thị xã Kiến An. Ta đã sáp nhập thành phố Hải Phòng với tỉnh Kiến An thành tỉnh Hải Kiến. Hải Phòng đã bị địch chiếm đóng hoàn toàn, ta đã chuyển sang đấu tranh chính trị là chính, còn Kiến An thì có vùng là địch hậu như vùng An Lão, vùng Kiến Thụy nhưng có vùng là “xôi đỗ” giữa địch và ta, quân ta có thể hoạt động du kích.
Ở Hải Phòng, khi chưa chuyển sang đấu tranh chính trị, từ ngày 20-11-1946 đến ngày 26-11-1946, trong 7 ngày đêm tác chiến ác liệt dưới sự chỉ đạo của Trung ương, kết hợp với sự sáng tạo của địa phương, quân dân ta đã lập những trận đánh lịch sử như tại Nhà hát lớn thành phố, tại Bưu điện thành phố, tại nhà Ga, đánh chiếm sân bay Cát Bi lần thứ nhất (21- 23/11/1946). Quân dân Hải Phòng đã tạo được hình ảnh nhân dân chiến tranh, du kích chiến tranh rất độc đáo, áp dụng cho toàn thể quân dân Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ chống Pháp (1946-1954). Hình ảnh đó thể hiện đường lối chiến tranh chống thực dân Pháp. Đó là:
1) Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi.
2) Toàn dân đánh giặc lấy 3 thứ quân làm nòng cốt (3 thứ quân đó là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích). Đó là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang của ta.
3) Phân vùng đấu tranh trong địch hậu (có vùng địch tạm chiếm, vùng tranh chấp, vùng du kích) và vùng tự do, môi vùng có phương châm hoạt động riêng.
Ở Kiến An, đã chia vùng ra, có phương châm hoạt động rộng rãi như: huyện An Lão, Kiến Thụy thì hoạt động theo vùng địch hậu; huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo có nhiều xã đẩy mạnh hoạt động du kích như trong hồi ký của đồng chí Nguyễn Sĩ Đó (theo tập 3, Đường 5 anh dũng quật khởi).
- Trận tiêu diệt địch bằng nội ứng vị trí Trung Lăng (Tiên Lãng) ngày 2-6-1952.
- Đánh vị trí địch chiếm đóng. Sau khi học kinh nghiệm đánh vị trí địch ở tỉnh Hưng Yên, Kiến An đã mở ra đánh một loạt vị trí như Tiên Cầu, Thạch Lựu, Sái Nghi, Kim Sơn, phá thủng phòng tuyến sông Văn Úc.
- Đánh chìm tàu chiến và 4 ca nô địch ngày 14-1-1954, diệt gọn số quân đi trên tàu. Và theo hồi ký của Đỗ Tất Yến (tập 4, Đường 5 anh dũng quật khởi), ngày 7-3-1954 Kiến An có trận đánh sân bay Cát Bi là một trận đánh độc lập, ở sâu trong địch hậu, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Điện Biên Phủ, đã phá hủy nhiều máy bay địch. Bác Hồ đã khen quân dân Kiến An và tặng các chiến sĩ đánh sàn bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”.
Như vậy, trải qua 8 năm kháng chiến chống Pháp, đến năm 1954, toàn tỉnh Kiến An với chiến thắng Cát Bi lẫy lừng, đã chuyển sang hoạt động du kích chiến tranh lên cao chưa từng có. Cùng với các tỉnh hoạt động trên đường 5, là Hải Dương và Hưng Yên mở mật trận “công kích trên đường 5” bằng các hoạt động như: đánh địa lỏi lật nhiều tàu hỏa trên đường xe lửa, đánh địch trên đường bộ, phục kích phá hoại đường số 5, mở rộng và củng cố chính quyền cách mạng, đẩy mạnh công tác địch, ngụy vận, làm tan rã hàng ngũ địch v.v... Ta đang thực sự uy hiếp, cất đứt đường 5, thì ngày 20- 7-1954, thực hiện ký kết hiệp định đình chiến ở Đông Dưang ta đã chuyên đấu tranh chính trị là chính buộc đối phương thực hiện đúng hiệp định Giơnevơ, đảm bảo cho ta giải phóng hoàn toàn một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 trở ra. Nội dung đấu tranh của ta bao gồm chống địch di chuyển máy móc và chống cưỡng ép dân di cư vào miền Nam.
Theo hiệp định đình chiến giữa ta và Pháp, địch ra lệnh rút quân và ta tiến hành tiếp quản các vùng như sau:
+ Hà Nội: sau khi ký kết hiệp định, Pháp sẽ rút quân 80 ngày và liền đó ta tiếp quản thành phố.
+ Hải Dương; sau 100 ngày ký kết hiệp định Giơnevơ ta tiếp quản Hải Dương.
+ Hải Phòng và vùng phụ cận: Pháp rút quân sau 300 ngày và ta tiếp quản, giải phóng Hải Phòng và vùng phụ cận.
Đối với vùng 300 ngày, hai bên thỏa thuận lịch rút quân Pháp, ấn định như sau: Pháp sẽ rút quân bắt đầu từ Cẩm Phả ngày 22-4-1955, Hòn Gai ngày 24-4-1955, Quảng Yên ngày 25-4-1955, Kim Thành, Kinh Môn ngày 28-4-1955, rồi đến thị xã Kiến An ngày 10-5-1955, huyện An Dương ngày 12-5-1955, thành phố Hải Phòng, vùng Núi Đèo, Cát Hải ngày 13- 5-1955 và Đổ Sơn ngày 15-5-1955. Ngày 16-5-1955, Pháp rút quân khỏi vịnh Hạ Long, vịnh Lan Hạ, kết thúc toàn bộ việc rút quân Pháp khỏi khu 300 ngày. Nhìn chung, việc rút quân Pháp và bên ta tiếp quản các nơi diễn ra được thuận lợi, đúng kế hoạch, không xảy ra sự cố nghiêm trọng, tuy có việc dân ta chống địch cưỡng ép một số dân vào Nam và chống địch di chuyển một số máy móc?
Như vậy, trong 8, 9 năm chiến đấu gay go, ác liệt và lâu dài chống thực dân Pháp, ta đã giành thắng lợi hoàn toàn ở nửa nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đứng trên tiến trình lịch sử, từ năm 1873 đến năm 1955: từ ngày 13-5-1955 quân dân ta đã quét sạch chế độ thực dân Pháp từ vĩ tuyến 17 trở ra và từ sau 30-4-1975, đất nước Việt Nam được độc lập và thống nhất hoàn toàn.
Ngày 15-5-1955, những tên lính Pháp cuối cùng xuống tàu tại Bến Nghiêng (Đồ Sơn) chấm dứt vĩnh viễn chế độ thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 20« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2022, 07:44:47 pm » | ĐỀ NGHỊ SỬA LẠI NỘI DUNG BIA DỰNG Ở BẾN NGHIÊNG (ĐỒ SƠN)
Quân dân Hải Phòng đã phải sống tủi nhục dưới ách đô hộ của thực dân Pháp từ năm 1873 và sống chiến đấu, gay go ác liệt và lâu dài từ 19-12-1946 đến 16-5-1955, trong 8, 9 năm (không kể thời gian ở Nam Bộ phải đấu tranh chống thực dân Pháp giành lại độc lập trước đó) và đã thực sự đuổi sạch quân đội Pháp khỏi đất liền ở Hải Phòng và ở miền Bắc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 16-5-1955. Đó là niềm tự hào, kiêu hãnh của toàn dân tộc Việt Nam và dân tộc Việt Nam nguyện sẽ đem sức lực và trí tuệ làm tốt 2 nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ 4 và nay là Đại hội Đảng 10 đã đề ra. Vì vậy, với cương vị là hội viên Hội Khoa học lịch sử thành phố Hải Phòng, tôi xin đề nghị đổi lại nội dung bia dựng ở Bến Nghiêng (Đồ Sơn) đúng với tính chất và yêu cầu lịch sử như sau: “Tại đây, tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hải Phòng đồng thời chấm dứt chế độ của thực dân Pháp trong 83 năm (1873-1955) ở Hải Phòng - Miền Bắc Việt Nam”.
Với đề nghị trên, xin trân trọng gửi lên Bảo tàng thành phố và Sở Văn hóa - Thông tin nghiên cứu, thẩm định và xây dựng phương án sửa chữa tại Bến Nghiêng (Đồ Sơn) và đệ trình lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng sớm xét duyệt và thực hiện.
VÕ AN ĐÔNG | |
Logged
|
|
|
|
dungnuocgiunuoc Thành viên  Bài viết: 634  | 
| Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 20« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2022, 07:48:09 pm » | Lời BBT: Ngày 10-9-1997, Bộ Tư lệnh Quán khu 3 có Quyết định số 852/BTL công nhận ngày truyền thống Lực lượng vũ trang thành phố Hải Phòng do Thiếu tướng Lê Trung Thành, Phó Tư lệnh Quân khu 3 ký. Đồng chí Võ An Đông, Chủ tịch Chi hội khoa học lịch sử quân sự, giải thích lý do lấy ngày 20-11 làm ngày truyền thống.
NGÀY 20/11 - NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HẢI PHÒNG VÕ AN ĐÔNG (Chủ tịch Chi hội khoa học lịch sử quân sự Hải Phòng)
Muốn xác định ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Hải Phòng, thì cần phải xem xét, nghiên cứu, cân nhắc đầy đủ các mặt gồm yếu tố lịch sử, quá trình xây dựng tổ chức và chiến đấu của lực lượng vũ trang Hải Phòng và gồm yếu tố đặc trưng của lực lượng vũ trang, của Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng về địa lý, chính trị, xã hội...
Trước hết về yếu tố lịch sử. Truyền thống yêu nước đánh giặc của Hải Phòng đã có gốc rễ từ xa xưa. Năm 40, ta có bà Lê Chân, một nữ tướng của Hai Bà Trưng; năm 938, ta có chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất, mở đầu kỷ nguyên độc lập của nước ta; năm 981, chiến thắng của Lê Hoàn lần thứ hai; đặc biệt năm 1288, chiến thắng lẫy lừng vang dội núi sông của Trần Hưng Đạo cũng ở Bạch Đằng.
Thời Pháp thuộc có cuộc khởi nghĩa của Đốc Tít (1885 - 1888) ở vùng Thủy Nguyên. Từ khi có Đảng, đồng thời với Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đảng bộ Hải Phòng đã sớm có chủ trương xây dựng đội Xích vệ trong các nhà máy Xi măng, Carông, Cảng Hải Phòng (4-1931). Năm 1940, Thành ủy Hải Phòng lại cử đồng chí Trần Kiên (tức Đặng Văn Minh) tổ chức tự vệ. Tiếc rằng những tổ chức này được tổ chức ra không rõ ngày tháng cụ thể, lại thiếu những dấu ấn thành tích đáng ghi nhớ cho đời sau.
Từ sau đảo chính Nhật - Pháp đã dấy lên phong trào nhân dân và tự vệ sôi nổi khắp các huyện ngoại thành, có những chiến công quân sự nổi danh thời đó. Tự vệ xã Phục Lễ diệt đồn Cát Hải(tháng 3-1945); Thủy Nguyên diệt đồn Trịnh Xá (6-1945); Kiến Thụy diệt đồn Bàng La (7-1945); An Lão đột nhập và tước khí giới của Bảo an binh tỉnh Kiến An (21/8/1945). Các huyện lần lượt thành lập chính quyền cách mạng đều có sự hậu thuẫn của tự vệ. Cuối cùng ngày 23-8-1945 diễn ra cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng có sự tham gia của lực lượng chiến khu Trần Hung Đạo và tự vệ khắp nơi.
Ngày 20-11-1946 nổ ra “Sự kiện Hải Phòng” được coi là khúc nhạc dạo đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ huy quân sự của Bộ Chỉ huy chiến khu 3, Hải Phòng đã trải qua 7 ngày đêm chiến đấu oanh liệt đầy gian khổ hy sinh với sự tham gia của toàn dân mà nòng cốt là Trung đoàn 41 (sau đổi là E42), công an, cảnh sát xung phong, tự vệ toàn thành, tiếp đó chiến sự lan sang tỉnh Kiến An. Từ năm 1965, Hải Phòng thực sự bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngày 21-6-1965 hợp nhất Sư đoàn 350 với Thành đội Hải Phòng, trở thành Bộ Tư lệnh 350 có nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ Hải Phòng, phối hợp với các binh quân chủng đóng trên địa bàn, chống phong tỏa đường biển, tổ chức bắn máy bay, tổ chức phòng không nhân dân, chi viện cho miền Nam hàng vạn chiến sĩ và hàng triệu tấn hàng.
Ngày 30-10-1978, lực lượng vũ trang Hải Phòng vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu cao qúy: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Ngày 1-1-1980, tách Sư đoàn 350, thành lập Bộ Chỉ huy Quân sự Hải Phòng cho tới ngày nay. Tuy tến gọi có khác nhau, nhưng cơ cấu tổ chức vẫn giống nhau, nghĩa là có bộ đội thường trực, có dân quân tự vệ, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và sự chỉ huy về quân sự của Quân khu 3.
Về yếu tố đặc trưng của Hải Phòng, đầu tiên phải kể đến việc Hải Phòng phát triển như ngày nay là gồm đất của bốn tỉnh hợp lại: Đó là thành phố nhượng địa của Pháp xưa, toàn bộ tỉnh Kiến An, huyện Vĩnh Bảo trước thuộc tỉnh Hải Dương, huyện Thủy Nguyên và Cát Hải trước thuộc tỉnh Quảng Ninh (Hồng Quảng).
Nội thành (thành phố nhượng địa xưa) về đất đai tuy hẹp, nhưng là trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa, rất nhạy cảm, mỗi sự việc xảy ra ở nội thành đều tác động sâu sắc tới vùng lân cận.
Do yêu cầu phát triển về kinh tế, Hải Phòng ngày càng phát triển, về cơ cấu dân số, có nhiều người ở các tỉnh khác nhau về định cư sinh sống đã góp phần xây dựng Hải Phòng ngày nay.
Đảng bộ Hải Phòng có từ rất sớm, bắt đầu từ nội thành, là địa bàn hoạt động của nhiều lãnh tụ Đảng như Lương Khánh Thiện, Nguyễn Đức Cảnh, Tô Hiệu, Nguyễn Lương Bằng v.v... Nhưng Đảng bộ thường bị địch khủng bố, cơ sở bị tan vỡ, rồi lại củng cố nhiều lần trải qua bao thăng trầm.
Tổng hợp phân tích các yếu tố trên cho ta mấy nhận định:
1) Hải Phòng (nội thành) là một trung tâm hành chính, kinh tế, xã hội, quân sự từ xưa và cho đến ngày nay, mọi sự kiện quan trọng xảy ra ở nội thành đều ảnh hưởng tới các vùng lân cận. Cho nên, nên chọn ngày truyền thống vào một sự kiện lịch sử nào xảy ra ở nội thành mà có ý nghĩa nhất.
2) Hải Phòng có một vị trí trọng yếu đối với cả nước. Kinh nghiệm 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, cơ cấu tổ chức quân sự của ta phải là toàn dân đánh giặc, nòng cốt là lực lượng vũ trang bao gồm không chỉ đơn thuần chỉ có dân quân, tự vệ là lực lượng vừa sản xuất, vừa chiến đấu, mà còn phải có bộ đội thường trực. Việc chọn ngày truyền thống phải làm sao thỏa mãn nguyện vọng của cả 3 thứ quân.
3) Đảng bộ Hải Phòng tuy đã có từ rất sớm, trải qua nhiều thăng trầm, lúc thì được củng cố, lúc thì bị sộc sệch. Lực lượng vũ trang Hải Phòng được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt và tuyệt đối. Cho nên, việc chọn ngày truyền thống nên hướng về một sự kiện lịch sử nào mà sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được rõ nét.
4) Lực lượng vũ trang Hải Phòng có một bề dầy lịch sử rất vẻ vang, có sự đóng góp của nhiều người, trong đó có chủ lực được điều tới, được các tầng lớp dân cư từ nhiều tỉnh hợp lại. Cho nên, lựa chọn ngày truyền thống không thể đứng trên quan điểm cục bộ, địa phương, mà phải nhìn toàn cục, toàn diện để thỏa mãn nguyện vọng của cơ cấu dân cư các địa phương hợp thành.
Qua sự phân tích cẩn trọng trên, phương án lựa chọn ngày truyền thống lực lượng vũ trang thành phố Hải Phòng một cách hợp với lịch sử nhất, thích hợp với đặc thù của Hải Phòng nhất nên xác định ngày 20-11-1946 vì mấy lý do sau:
1/ Ngày 20-11-1946 mở đầu “Sự kiện Hải Phòng”, xảy ra ở ngay trung tâm thành phố, có nhiều ý nghĩa đối với toàn quốc chống Pháp và cả đối với quốc tế, rất nhiều các chính khách và các nhà sử học cho tới bây giờ vẫn đang nghiên cứu, phân tích.
2/ Ngày 20-11-1946 không chỉ là một trận đánh riêng lẻ, mà đã mở đầu cho nhiều trận đánh, một chuỗi hoạt động vũ trang trong suốt 7 ngày đêm và cả những ngày tiếp theo.
3/ Những trận đánh từ 20-11-1946 đều đã được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, Thành ủy Hải Phòng, lại được sự chỉ huy chiến đấu của Chiến khu 3 (tiền thân của Quân khu 3 ngày nay).
4/ Sự kiện Hải Phòng không chỉ có bộ đội, tự vệ, nhân dân ở nội thành tham gia chiến đấu mà có cả xương máu của quân, dân tỉnh Kiến An (cũ), huyện Thủy Nguyên và Vĩnh Bảo, do đó sẽ thỏa mãn được tâm tư, nguyện vọng của cả 3 thứ quân và của các địa phương hợp thành thành phố Hải Phòng ngày nay.
Chi hội lịch sử quân sự theo sự gợi ý của Bộ Chỉ huy Quân sự Hải Phòng, đã nghiêm túc triển khai cho toàn thể hội viên của mình, thảo luận sói nổi, tranh luận nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng đã thống nhất phương án chọn ngày truyền thống như trên và xây dựng một luận điểm của chi hội, vừa có tính khoa học, vừa có tính thuyết phục, đã được báo cáo tại buổi hội thảo về vấn đề này của thành phố.
Nay cấp trên đã quyết định chính thức lấy ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Hải Phòng phù hợp với mình. Chi hội lịch sử quân sự rất lấy làm vinh dự, tự thấy chi hội đã làm tròn trách nhiệm đối với Bộ Chỉ huy Quân sự và lực lượng vũ trang thành phố. |
|
|