Bài viết

DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN BẦU NHIỆT HUYẾT KHÔNG VƠI CẠN

Khác hẳn với một số sĩ phu tham gia Đông kinh Nghĩa thục, sau khi ở Côn Đảo về, lấy văn chương giãi bày tâm tư, không xuất hiện trên văn đàn, Dương Bá Trạc vẫn hoạt động sôi nổi, những mong mang văn bút giúp đời. Ông viết truyện thơ Trai lành gái tốt, rồi xuất bản ở Nghiêm Hàm ấn quán, năm 1924. Ông còn nhiệt tình viết cho tạp chí Nam Phong, báo Trung Bắc tân văn nhiều bài xã thuyết (tức xã luận), bình luận những vấn đề chính trị xã hội nhằm truyền bầu máu nóng cứu nước đến nhân sĩ trí thức Hà T

An Giang17/06/2026Chi Đoàn Khu Phố Tà Keo Vàm (Đoàn Phường Vĩnh Thông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN

BẦU NHIỆT HUYẾT KHÔNG VƠI CẠN

Khác hẳn với một số sĩ phu tham gia Đông kinh Nghĩa thục, sau khi ở Côn Đảo về, lấy văn chương giãi bày tâm tư, không xuất hiện trên văn đàn, Dương Bá Trạc vẫn hoạt động sôi nổi, những mong mang văn bút giúp đời. Ông viết truyện thơ Trai lành gái tốt, rồi xuất bản ở Nghiêm Hàm ấn quán, năm 1924. Ông còn nhiệt tình viết cho tạp chí Nam Phong, báo Trung Bắc tân văn nhiều bài xã thuyết (tức xã luận), bình luận những vấn đề chính trị xã hội nhằm truyền bầu máu nóng cứu nước đến nhân sĩ trí thức Hà Thành và trong nước, sau đó các bài được tập hợp in trong sách Tiếng gọi đàn, NXB Đông Tây ấn hành năm 1925.

Là thành viên của Hội Khai trí Tiến đức - một tổ chức tập hợp những cây bút văn học nổi tiếng của Hà Nội lúc đó - Dương Bá Trạc đã tham gia cùng một số tác giả soạn bộ “Việt Nam từ điển”“Việt Nam văn phạm”. Năm 1932-1935, ông làm chủ bút tờ Văn học tạp chí và báo Đông Tây; và em trai ông - Dương Tự Quán, làm chủ nhiệm. Cũng khoảng thời gian này, năm 1937, NXB Đông Tây của Dương Tự Quán tập hợp các bài thơ câu đối của Dương Bá Trạc, in thành sách Nét mực tình. 73 bài thơ nôm - quốc ngữ làm nên nét đặc sắc của tập thơ. Ông đã tự học, tự rèn, nhập cuộc với trào lưu tân học của thời đại. Bài Vào hè là một điển hình thành công của ông trong nghệ thuật thơ - vận dụng thơ Đường luật mà vẫn rất tinh tế uyển chuyển với ngôn ngữ thuần Việt. Dương Bá Trạc đã vẽ nên khung cảnh đầu hè ở quê hương thật sinh động, đầy sức sống: Ngõ trước vườn sau um những cỏ/ Hồng rơi thắm rụng tiếc cho huê/Trên cành gọi bạn chim xao xác/Trong tối đua bay đóm lập lòe. Vì thế, ngay từ khi mới ra đời, Nét mực tình đã được bạn đọc chào đón nồng nhiệt và văn giới đánh giá cao. Vũ Ngọc Phan, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại đã đánh giá “trong các nhà văn đi tiên phong, ông vẫn được kể là một người lỗi lạc”.

Phong thái nhập cuộc của ông đã được Hoa Bằng vẽ rất “nghệ” trong bài Nhớ lại một buổi hội đàm với cụ Dương Bá Trạc đăng trên báo Tri Tân năm 1945: “Hôm ấy là ngày 25-10-1935, tại nhà in Đông Tây, tôi gặp cụ Dương Bá Trạc, người vạm vỡ đẫy đà, mặt to, nước da ngăm ngăm, mắt tỉnh táo, vẻ người hùng nghị, đĩnh đạc trong chiếc áo dài không ủi”. Không cố cựu đến bảo thủ, Dương Bá Trạc còn làm câu đối hồ hởi chào mừng nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi trong sự nghiệp kinh bang tế thế, và đó cũng là giúp nước, cứu nước: “Xã hội quý có phú hào, là góp được của đời, để dùng làm việc đời, túi gấm ông Đào nên mở hết/Thế giới xô về thương chiếu, người lấy quyền lực thắng, ta lấy tâm lực thắng, tượng đồng vua Thép há thua ai”

Viết Việt sử khảo; Việt sử luận và bình thơ

Một di cảo đặc sắc khác của Dương Bá Trạc đóng góp cho văn hóa nước nhà đầu thế kỷ XX, chính là các tác phẩm luận bàn lịch sử Việt sử khảo Việt sử luận. Nét mới nhất mà ông thể hiện trong cách viết và bố cục của Việt sử khảo, là viết theo vấn đề, trình bày logic chặt chẽ, luận bàn với quan điểm mới, có kế thừa và phê phán: “Sử học đời trước chẳng qua ghi nhớ sự thực; sử học bây giờ phải biết rõ sự thực nó có quan hệ với nhau cùng nguyên nhân kết quả nó ra thế nào. Những sử nước ta chép theo lối sử học đời trước cả, nay muốn lấy lối sử học mới mà đọc sử nước ta, thật là tức giận”(1), Và thế là ông “Tóm hết sự thực chép trong sử, xét riêng từng phương diện mà lược kể ra sau này, gọi là giúp một phần nhỏ mọn cho các nhà đọc sử”(2), theo các tiết:

Lập quốc địa vị- địa vị nước ta ở châu Á và Đông Dương.

Nhân chưởng: nguồn gốc giống nòi Giao Chỉ xưa và Việt Nam ngày nay.

Tiến hóa trình độ: luận bàn về địa thế, sản vật, ruộng đất thiên thời địa lợi khiến cho đất nước vẫn ở trong trình độ bán khai. Đến thời đại ngày nay “Năm châu chung chợ, cuộc cạnh tranh trên thế giới như sấm vang, như sét nổ, như gió dập, như sóng dồi”(3), nên dân Việt phải nhận thấy thời cuộc mà đổi mới, ganh đua với năm châu. Đó là tư tưởng tiến bộ của Dương Bá Trạc, hợp với quy luật của kinh tế đã có các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa do thực dân Pháp áp đặt vào nước ta, bắt buộc ta phải đổi mới trong cách nghĩ và hành động hợp thời cuộc, ích nước lợi dân.

Quốc dân đối ngoại tính chất: luận bàn tính cách của người Việt trong việc đối ngoại, hòa hiếu, trọng người tài nhưng khi bị nô lệ, kiên cường đấu tranh giành lấy tự do độc lập.

Ths. Phạm Kim Thanh

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn