Bài viết

DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN LỊCH TRIỀU CHÍNH TRỊ

Đề cập đến dân đinh chế độ ruộng đất, tài chính, quân đội, hình luật, phép khoa cử, phép dụng nhân. Tuy tóm tắt cô đọng các vấn đề của lịch sử nước ta từ thời thượng cổ đến thế kỷ XV, thời Lê Thánh Tông trong 5 vấn đề trên, nhưng lấy sự nhìn nhận khách quan để soi vào quá khứ, Dương Bá Trạc rút ra bài học xương máu để trí thức tân học suy nghĩ, lấy vận hội để thực hiện cải cách đất nước.

An Giang17/06/2026Chi Đoàn Khu Phố Tà Keo Vàm (Đoàn Phường Vĩnh Thông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN

LỊCH TRIỀU CHÍNH TRỊ

Đề cập đến dân đinh chế độ ruộng đất, tài chính, quân đội, hình luật, phép khoa cử, phép dụng nhân.

Tuy tóm tắt cô đọng các vấn đề của lịch sử nước ta từ thời thượng cổ đến thế kỷ XV, thời Lê Thánh Tông trong 5 vấn đề trên, nhưng lấy sự nhìn nhận khách quan để soi vào quá khứ, Dương Bá Trạc rút ra bài học xương máu để trí thức tân học suy nghĩ, lấy vận hội để thực hiện cải cách đất nước. “Việc chính trị nước ta thời xưa, so với các nước văn minh bây giờ, thật là một trời một vực. Nếu không biết tùy thời cải cách mà đổ thừa tại đời xưa chính trị bất lương, thời có phải là cái tội của đời xưa đâu”(4)

Tác phẩm Việt sử luận, Dương Bá Trạc chỉ chọn viết chuyện năm đời: vua Hùng, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, vua Đinh, vua Quang Trung. Cuối mỗi câu chuyện có lời bàn và bài thơ. Cách viết lời bàn, không mới, tựa như Ngô Sĩ Liên viết lời bàn vậy. Mới và đặc sắc là ở phần thơ theo thể 7 chữ, gói được cả hồn cốt câu chuyện và bài học sâu sắc mà lịch sử để lại. Ví như bài thơ về chuyện Nàng Mỵ Châu:

Thành Loa trăm thước chẳng là bền

Móng rùa ba tấc chẳng là thiêng

Nước nhà dấy mất tại người cả

Thành trì không hiểm thần không quyền

Hai Bà Trưng khởi nghĩa, lập đô nước Nam ở Mê Linh, sử thần Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đều có lời bàn ca ngợi hết lời, nhưng đến Dương Bá trạc, tiếp thu văn minh châu Âu, ông có cái nhìn so sánh với Gian Đa và rất đỗi tự hào: “Ta có thể đem chuyện Hai Bà góp vào lịch sử anh thư trong thế giới mà không thẹn chút nào; sánh với bà nữ kiệt Pháp kia còn bội phần vinh diệu vậy” (Tri Tân số 38, 1942). Hoặc như sự nghiệp anh hùng của Quang Trung - Nguyễn Huệ, ông đem cái nhìn khách quan, công minh của hậu thế vào lời bàn: Gặp lúc triều Lê suy sút, Nguyễn, Trịnh tranh giành, non nước tan tành, nhân dân chìm cháy, ngài có cái chí khí hơn người, cái tài lược xuất chúng, cái độ lượng dung hiền, nạp sĩ, cái quy mô định loạn an bang, ra mà đảm nhiệm cái việc trừ bạo cứu dân lúc ấy, có gì là thất tiếm, là tà tư? vậy há nên cứ gọi là nguỵ triều mãi (Tri Tân số 35, 1942).

Thái độ khách quan, trung thực của người cầm bút, không chỉ trong các bài báo mang tính chính luận như trên mà còn thể hiện cả trong một số bài thơ khi ông cảm xúc trước các nhân vật lịch sử. Đối với Lê Văn Duyệt, ông đánh giá trong bài Yết miếu ông Lê Văn Duyệt: “Triều đại phế hưng thay đổi mấy/ Danh ông vẫn dậy đất Đồng Nai” và :“Hai chục năm ngoài công kiến thiết/ Dấu thơm để lại với sơn hà” (Dương Bá Trạc - NXB Phụ Nữ. H.2004, tr 144). Và thực tế, trong tâm thức nhân gian, mọi người dân Nam Bộ từ xưa đến nay vẫn gọi Lê Văn Duyệt trân trọng - Lăng Ông. Đối với Phan Thanh Giản, ông dùng những lời thống thiết mà hết sức đúng người, đúng cảnh: “Cả triều như ngủ, ngủ mê man/ Bức sớ Tây về họng luống khan/ Nam Bắc phận bài bao cực nhọc/ Mất còn thân hệ với giang sơn/ Thành trì sáu tỉnh đành đi đứt/ Tính mạng muôn nhà nỡ giết oan? Thôi thế một mình cho trọn tiết/ Tiếng thơm còn để lại nhân gian”. Phương pháp đánh giá vai trò cá nhân trong lịch sử, công tội phân minh, phải đặt vào bối cảnh lịch sử cụ thể, Dương Bá Trạc đã thể hiện ở ngay cả trong thơ.

Giữa lúc người Pháp cai trị, bày ra các trò vui vẻ trẻ trung “Khoẻ để phụng sự”, phát xít Nhật nêu cao thuyết Đại đông Á, Khối thịnh vượng chung, cho trí thức, thanh niên học sinh các đô thị quên đi gông xiềng nô lệ, thì những bài của Dương Bá Trạc đăng trên Tri Tân, rồi tập hợp trong Việt sử luận, Việt sử khảo, là tiếng chuông thức tỉnh, gọi hồn Việt trở về hâm bầu máu nóng, giành lại giang san. Ông nhập thế bằng ngòi bút văn chương tài hoa, chứ không chịu ở ẩn như một số nhà nho cuối mùa, lấy văn thơ để thỏa tâm tư mà đau lòng nhìn thế cuộc.

Có thể nói rằng,thời gian này, ba anh em ruột Dương Bá Trạc - Dương Quảng Hàm - Dương Tự Quán, làm nên một hiện tượng văn hóa khá độc đáo: cả ba anh em đều mang bầu tâm huyết nhiệt thành yêu nước và trở thành những cây bút có danh tiếng trên văn đàn, báo chí, góp phần to lớn vào sự phát triển của nền văn học, báo chí Việt Nam những năm 40 của thế kỷ XX.

Ths. Phạm Kim Thanh

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn