DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN THỎA CHÍ TRAI CỨU NƯỚC
Giữa những ngày Hà Nội sục sôi cao trào tiền khởi nghĩa, lễ cầu siêu cho nhà chí sĩ yêu nước Dương Bá Trạc ngày 18-3-1945 tại Quán Sứ càng thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh của nhân dân giành quyền sống trong độc lập tự do. Lời điếu của cụ Phó Bảng Bùi Kỷ đọc trong lễ truy điệu vẫn còn như vang vọng đến ngàn thu: “Sáu mươi tuổi lòng son tóc bạc, người vị quốc vốn là người bất tử, cốt sao trả nợ giang sơn”.
DƯƠNG BÁ TRẠC (1884-1944), LÒNG SON TRẢ NỢ GIANG SƠN THỎA CHÍ TRAI CỨU NƯỚC
Giữa những ngày Hà Nội sục sôi cao trào tiền khởi nghĩa, lễ cầu siêu cho nhà chí sĩ yêu nước Dương Bá Trạc ngày 18-3-1945 tại Quán Sứ càng thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh của nhân dân giành quyền sống trong độc lập tự do. Lời điếu của cụ Phó Bảng Bùi Kỷ đọc trong lễ truy điệu vẫn còn như vang vọng đến ngàn thu: “Sáu mươi tuổi lòng son tóc bạc, người vị quốc vốn là người bất tử, cốt sao trả nợ giang sơn”.
Giữa những ngày Hà Nội sục sôi cao trào tiền khởi nghĩa, lễ cầu siêu cho nhà chí sĩ yêu nước Dương Bá Trạc ngày 18-3-1945 tại Quán Sứ càng thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh của nhân dân giành quyền sống trong độc lập tự do. Lời điếu của cụ Phó Bảng Bùi Kỷ đọc trong lễ truy điệu vẫn còn như vang vọng đến ngàn thu: “Sáu mươi tuổi lòng son tóc bạc, người vị quốc vốn là người bất tử, cốt sao trả nợ giang sơn”.
Ông không chỉ cống hiến tâm trí cho công cuộc Duy Tân của các sĩ phu và hoạt động sôi nổi của trường Đông kinh Nghĩa thục, mà còn góp phần không nhỏ vào các hoạt động văn hóa – nghệ thuật dân tộc trong những năm 40 của thế kỷ XX.
|
Dương Bá Trạc, hiệu Tuyết Huy, sinh ngày 27-3 năm Giáp Thân (tức 22-4-1884) tại làng Phú Thị, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Dương Bá Trạc, hiệu Tuyết Huy (1884-1944)
Nối nghiệp nhà gia lễ, thi thư của cụ nội Dương Thanh (1804-1861) và Dương Trọng Phổ (1862-1927), 16 tuổi, Dương Bá Trạc đã đỗ cử nhân (1900) và rồi ông sớm dấn thân vào sự nghiệp canh tân đất nước. Ông cùng Phan Chu Trinh đi thăm Đề Thám năm 1904, cùng Tăng Bạt Hổ đi khắp các tỉnh ngoài Bắc trong Nam, tuyên truyền, kêu gọi đồng bào thức tỉnh và liên kết với các anh tài, hào kiệt mưu việc lớn. Cuối năm 1906, ông tham gia sáng lập Đông kinh Nghĩa thục (ĐKNT), phụ trách việc diễn thuyết, bình văn, biên soạn sách lịch sử, địa lý theo cách phổ thông, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền bá. Ngoài ra, ông còn sốt sắng tham gia việc quyên góp cho thanh niên đi xuất dương. Huỳnh Thúc Kháng cảm mến gọi ông là Dương thiếu niên vì ông còn trẻ so với các sĩ phu lớp trước. Và khác hẳn với một số người tham gia ĐKNT, với tính cách sôi nổi, ưa hoạt động, Dương Bá Trạc đã giữ mối liên hệ khá chặt chẽ với nghĩa quân Đề Thám. Sau khi hiệu Hồng Tân Hưng, Đồng Lợi Tế, Đông Thành Xương - những địa điểm liên lạc và cũng là cơ sở gây quỹ của ĐKNT bị đóng cửa, Dương Bá Trạc cùng các đồng chí lập căn cứ ở rừng núi, mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự để khi có cơ hội sẽ vùng lên đánh Pháp. Bản thân ông nhận nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ Thái Lan về. Thực dân Pháp theo dõi, bắt thân phụ ông - cụ Dương Trọng Phổ lên tra hỏi, sau đó lại bắt mẹ và hai em thứ 6, thứ 7 để lung lạc tinh thần ông. Phiên xử tại Hội đồng đề hình của chính quyền thực dân ngày 15-10-1908 được người dân Hà Thành quan tâm đến dự và nổi tiếng trong lịch sử Thủ đô, bởi các sĩ phu lãnh đạo ĐKNT và các lãnh tụ khởi xướng, nghĩa quân tham gia vụ Hà Thành đầu độc 27-6-1908 đều bị kết tội làm loạn chống chính phủ, nhiều người bị kết án khổ sai chung thân. Hai cha con - Dương Trọng Phổ 5 năm tù, Dương Bá Trạc 15 năm tù. Tháng 8-1908, ông bị còng tay chung với sĩ phu Lê Đại từ Hỏa Lò ra Côn Đảo. Nhưng thảm cảnh đau lòng nhất là cụ Dương Trọng Phổ cũng bị đày ra đây làm “cỏ vê”. Lòng hiếu thảo của ông chỉ còn biết giãi bày trong thơ: “Lòng thảo xót xa trời họa thấu/ Tiếng kêu oan khổ đất khôn vùi”. May sao, 5 tháng sau, cha được về đất Bắc, còn ông 20 tháng sau về đất liền nhưng bị an trí ở Long Xuyên. Các bạn ông, mỗi người bị an trí một nơi: Nguyễn Quyền ở Bến Tre; Võ Hoành ở Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí ở Huế. Lê Đại về Hà Nội sau 17 năm biền biệt, bị xiềng xích ở Côn Đảo. Phải thêm 6 năm nữa xa quê hương, tù giam lỏng ở Sa Đéc, ông mới được trở về trong lòng quê ấm áp, gặp lại đồng chí một thuở vẫy vùng.
Ths. Phạm Kim Thanh
Bảo tàng Lịch sử quốc gia




