Và bài học lịch sử: “Hai mươi lăm triệu đồng bào con Hồng cháu Lạc, cha Rồng mẹ Tiên. Vua Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ – một bầu trăm trứng trăm con. Mười tám đời Hùng Vương dựng nước và giữ nước Văn Lang…
Nhìn những khẩu hiệu trên tường viết rất đẹp: “Tiên học lễ, hậu học văn – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư – Trật tự, kỷ luật, sạch sẽ…”; các bản hình vẽ hoặc in về các môn học Cách trí, Sử ký, Địa dư làm tôi rất vui thích và thấy sự hiểu biết rộng mở hơn nhiều. Trường tôi có hai lớp: lớp năm (Đồng Ấu) và lớp tư (Dự bị). Qua những ngày cùng học, tôi có nhiều bạn bè, ngày ngày cắp sách đến trường vui đùa, chuyện trò, cùng nhau học tập, ngày càng yêu mến, gắn bó với trường.
Cha tôi trước cũng là một thầy giáo trường làng, khi tôi lớn thì ông đã nghỉ dạy. Cha con tôi rất thân mật, ông thường dặn dò chuyện học hành, lòng kính trọng thầy, tình cảm đối với bạn bè. Khi tôi lớn hơn, ông nói cả truyện đời, đôi khi còn luận bàn về thời cuộc. Mẹ tôi làm nội trợ, bà học đến sơ học yếu lược nên thường nhắc nhở giờ giấc học tập, kiểm tra bài vở của tôi, do vậy một phần lớn cũng làm cho tôi siêng năng chăm chỉ, không thể lười biếng được.
Năm đầu, mới quen trường quen lớp, cuối năm tôi chỉ đứng thứ 5 trên 36 sĩ số, nhưng vì là học sinh nhỏ nhất lớp nên nhận được một phần thưởng khuyến khích gồm một giấy khen, năm tập vở trắng, và một hộp bút chì màu. Tôi còn ở trường Xuân Hội một năm lớp tư nữa vì chưa đủ tuổi lên lớp 3 (sơ đẳng). Năm này tôi đứng nhất lớp, cứ sau mỗi kỳ thi tấn ích (kỳ thi ba tháng một lần) thì tôi nhận được một bằng khen; mẹ tôi đóng khung treo trên tường, đó là một vinh dự, tôi càng cố gắng để luôn giữ vị trí cho đến cuối năm học.
Sau nghỉ hè, tôi chuyển lên lớp ba ở trường Phan Lý. Là trường huyện nhưng từ trước cho đến năm tôi học vẫn chỉ có ba lớp. Hết học thầy Thê, tôi vẫn luôn thăm thầy, nhất là trong các dịp nghỉ hè và Tết. Kháng chiến, tôi đi chiến đấu xa, thầy ở trong vùng tạm bị chiếm; sau ngày giải phóng, tôi lại tiếp tục thăm viếng, mừng thọ cho đến khi thầy qua đời. Tôi rất kính trọng thầy và thầy vẫn thương yêu tôi như ngày nào còn nhỏ, các sáng chủ nhật thường đến nhà giúp thầy cộng điểm của lớp trong tuần.
Cuối năm thi yếu lược, tôi đỗ đầu toàn huyện. May mắn làm sao, vừa lúc nhà nước cho trường Phan Lý mở thêm lớp nhì nhỏ, chúng tôi khỏi đi học trường huyện Hòa Đa có sáu lớp nhưng xa hơn bảy cây số. Gia đình tôi không có xe đạp, nếu học ở Hòa Đa phải tìm nhà trọ, tốn kém, nhà nghèo không kham nổi. Thầy Vấn (dạy tôi) trong chống Pháp là cán bộ Ty Giáo dục Bình Thuận, nhưng không đi tập kết, nghe nói sau đó thầy đưa gia đình vào Sài Gòn rồi tìm cách ra được Khu 4 ở quê hương giải phóng. Đến nay, tôi vẫn không biết thầy cô và gia đình như thế nào. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #2 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:46:49 am » | Lên lớp nhì lớn, một lần nữa trường tôi lại được mở thêm lớp vào năm sau có tiếp lớp nhất. Khi khai giảng lớp nhì lớn, trường làm lễ khánh thành có thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục Phạm Quỳnh, công sứ Pháp và tuần vũ Bình Thuận về dự. Có một nghịch lý là tuy còn nhỏ nhưng chúng tôi vẫn có thể thấy là: khi thầy trò lớp tôi chụp ảnh kỳ niệm có ba vị quan lớn thì viên công sứ Pháp đầu tỉnh lại ngồi chễm chệ ở ghế giữa, còn thượng thư và tuần vũ Nam triều thì ngồi ghế hai bên. Rõ ràng Công sứ Đại pháp oai vệ hơn thượng thư và tuần vũ Nam triều. Thầy lớp nhì lớn tên là Lê Võ Thám, người Quảng Nam, chưa vợ, mạnh khỏe, khôi ngô, thường mặc âu phục, chơi ten nít giỏi. Thầy có lối dạy rất sắc sảo, luôn được Huấn đạo, Kiểm học nhận xét tốt về sư phạm. Cách mạng tháng Tám, tôi nghe nói thầy ở Bộ chỉ huy mặt trận Nha Trang, sau công tác ở vùng tự do Liên khu 5. Trong chống Pháp, tôi không ra học ở Liên khu 5 nên không có điều kiện để tìm thăm thầy. Sau năm học, các thầy Tích, Thám, Phú đều đổi đi dạy ở nơi khác.
Tuy chỉ học mỗi thầy một năm, nhưng tình thầy trò rất đậm đà, thân thiết. Tôi ghi nhớ mãi công ơn các thầy đã dạy dỗ, dìu dắt tôi những bước đầu trên đường học hỏi kiến thức và xây dựng nhân cách ở đời; dù từ khởi đầu tuổi học trò cho đến khi rời ghế nhà trường tôi cũng chỉ mới tuổi 13 nhưng nhờ sự bồi dưỡng giáo dục về hiếu thảo với ông bà cha mẹ, biết ơn tổ tiên nòi giống, biết tôn sư trọng đạo, nhân nghĩa lễ trí tín trong đối nhân xử thế; từ đó lòng yêu nước thương nòi tuy chưa sâu sắc nhưng cũng đã hình thành và qua năm tháng đã được nâng lên. Từ năm lên lớp nhì nhỏ tôi được học bổng, thời đó với học bổng ít ỏi này cũng đủ mua sách vở, giấy bút, quần áo mặc trong năm, đỡ một phần cho gia đình. Học bổng thời ấy là số tiền nhà nước giúp cho những học sinh nghèo học giỏi, sau này lớn lên ra đời làm việc thì phải hoàn lại bằng cách trừ tiền lương hàng tháng cho đến hết số tiền được cấp. Tôi chỉ nhận học bổng ba năm, sau đậu tiểu học thì ở nhà giúp việc gia đình. Cách mạng tháng Tám, tôi khỏi phải trả món nợ học bổng cho “nhà nước Đại Pháp”.
Năm tôi học lớp nhất, Bảo Long lên ngôi Hoàng thái tử, mỗi trường huyện chọn một học sinh nhận giải thưởng của Bảo Long. Tôi may mắn nhận được giải thưởng này gồm một bức ảnh Bảo Long, mặc long bào, đội mũ mang hia và một quyển từ điển tiếng Pháp (La Rousse). Ảnh Bảo Long xem chơi nhưng quyền từ điển thì có ích cho học vấn. Cũng là một kỷ niệm đẹp thời học sinh.
Là học sinh giỏi ở trường Phan Lý, nhưng năm 1940 vào Phan Thiết thi tiểu học (nay là trường tiểu học Đức Thắng I), tôi không khỏi lo lắng “học tài thi phận”. Không may cho tôi, đầu tiên gặp bài chính tả tiếng Pháp là bài Leriz, tôi không nhớ cụm từ Leriz est le don du ciel (hạt gạo là của trời cho). Thầy đọc giọng mũi điệu như giọng đầm rất khó nghe, tôi không phân biệt đây là một hay ba từ. Liếc sang thí sinh bên cạnh thấy anh ta viết ba chữ. Hỏi nhỏ như anh ta sợ liên lụy, không đáp mà còn che kín bài viết, tôi đành viết đại là dounbuissiel thật là ẩu vì không có nghĩa gì cả.
Ở nhà đã biết bài chính tả tiếng Pháp là quan trọng quyết định, nên bị hột gà thì cả 5 còn lại: toán tiếng Pháp, văn tiếng Pháp, văn tiếng Việt, tập viết, tập vẽ đều bị loại, không chấm nữa. Mà rớt thi viết, không được vào thi vấn đáp tức rớt luôn. Bài chính tả chỉ được phạm hai lỗi, còn lại là đề phòng cho dấu phẩy, chấm phẩy, xuống hàng, gạch nối v.v… Các dấu thầy không đọc, tự mình phải xử lý. Sau ngày thi viết, tôi rất buồn vì đã phạm ba lỗi một lúc, vậy các bài khác có giỏi cũng bằng thừa. Hai ngày chờ đợi kết quả thi viết, tôi thẫn thờ ăn ngủ không ngon, đi chơi cũng chẳng thích thú gì. May mắn làm sao lúc xướng danh số 270 thí sinh đủ điểm vào thi miệng có tên tôi. Tôi không tin vào tai mình nữa, lúc đó chỉ sơ tuyển số đủ điểm vào thi miệng nên chỉ công bố tên theo thứ tự A, B, C chứ không theo điểm cao thấp. Tên tôi vần C nên dò cũng nhanh. Đây rồi, có tên Phạm Hoài Chương, không có tên Chương nào nữa. Tôi mừng không thể tả, có qua được bước này mới hy vọng ở bước sau, tôi như mở cờ trong bụng. Ngày thi miệng khá trót lọt. Bài thi dịch tiếng Việt sang tiếng Pháp là bài Làng tôi. Tôi mới dịch được độ một phần ba bài, thầy cho tôi. Liếc theo quản bút, tôi thấy con số 9. Đến bài sử ký Pháp thì rắc rối, bài Napoléon, tôi chỉ nhớ Napoléon sinh ở đảo Coóc mà không nhớ làng nào nên bỏ qua điểm này. Thầy chặn lại hỏi Napoléon sinh ở làng nào? Tôi bí. Thầy cười. Phần sau nói khá đầy đủ. Lúc thầy cho thôi, tôi nhìn thấy con số 7. Tiếc ơi là tiếc, chỉ quên cái tên làng sinh của Napoléon mà không được điểm cao, nhưng tại sao phải biết Napoléon sinh ở làng nào mới được nhỉ? Cha tôi ngoài hành lang theo dõi các bài thi vấn đáp của tôi với vẻ hài lòng. Cuối này, ông vui vẻ nói: chắc con đậu.
Những buổi học cuối năm thật thong thả, thoải mái. Chúng tôi lưu luyến từ giã những người thầy đã hết lòng dạy dỗ mình trong những bước đi đầu tiên để vào đời. Từ biết trường Phan Lý thân yêu sau bốn năm miệt mài học tập, tôi và nhiều bạn cùng lớp biết rằng từ đây phải rời ghế nhà trường vì nhà nghèo không thể thi vào ban thành chung được. Thời ấy chỉ ở Sài Gòn, Hà Nội mới có nhiều trường công, tư ở bậc thành chung. Ở Huế cũng chỉ có trường Đồng Khánh cho nữ và trường Khải Định cho nam mà thôi. Cho nên phải học giỏi nhưng cũng phải là con nhà khá giả mới có thể học lên bậc cao hơn được. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:48:14 am » | 2. Lao động.
Khi lớn hơn một chút, tôi được bà nội và mẹ cho biết ông nội tôi là người Hà Tĩnh, khi triều đình Huế bỏ các khoa thi chữ Hán thì ông học chữ quốc ngữ và các nghề thuốc bắc, thợ may. Có lẽ vì sinh kế, ông đi lần vào phía nam, đến ở xóm Tằm, làng Xuân Hội và gặp bà tôi. Ông làm thầy giáo ở trường làng ở Liêm Công, sau nghỉ dạy, ông làm thợ may và làm ruộng. Bà tôi nuôi tằm kéo kén thành tơ và làm nội trợ. Khi già, ông tôi thường bị bệnh, cuộc sống khó khăn hơn. Cha tôi vừa học chữ Hán vừa học chữ quốc ngữ, làm thầy giáo trường làng ở Thái An; khi tôi đến tuổi đi học thì cha tôi đã hết dạy từ lâu.
Mẹ tôi làm gạo hàng xáo, tráng bánh tráng, đi nhổ cỏ thuê, mót lúa ngày mùa. Khi tôi đi học thì nhà đã nghèo, nếu không ai đau bệnh thì cũng đủ sống. Hết học, tôi thường theo cha đi rập cu cườm và đánh cá.
Ở nông thôn, có mảnh bằng tiểu học cũng được coi trọng nhưng để bước vao đời thì cũng không dễ dàng. Chỉ một số ít con nhà khá giả, có thân thế thì mới chạy được làm giáo viên trường làng, không dễ như thời ông và cha tôi đâu. Tôi có người chú họ tên là Nguyễn Như Hương có anh bà con làm xếp ga ở Thủ Đức nên được làm nhân viên nhà ga. Cách mạng tháng Tám, chú vào thanh niên tiền phong, chiến đấu, hy sinh ở mặt trận Cầu Bông – Thị Nghè. Một người anh em bà con khác được học y tá ở nhà thương Phan Thiết. Tôi biết hoàn cảnh mình không được như vậy, thôi thì cứ lao động chân tay theo kiểu con nhà nghèo. Cha mẹ muốn tôi chọn lọc một trong các nghề thợ may, cắt tóc, thợ kim hoàn để khỏi nắng mưa vất vả nhưng tôi lại không muốn làm các nghề suốt ngày đứng ngồi một chỗ ấy mà chỉ muốn lao động làm thuê như các bạn cùng lứa. Năm 1941, cha mẹ cho tôi đi Sài Gòn học nghề sắp chữ in (typo graphe). Chủ nhà in tên là Trần Công Định ở 92 Pellerin, có quen biết cha tôi nên gia đình gửi tôi làm học nghề ăn cơm không, khỏi tốn tiền học việc, sau đó tôi có nghề để nuôi sống và giúp đỡ gia đình chút ít. Được đi đây đó, biết Sài Gòn cũng thích, tôi đồng ý. Học đến Tết, tôi đã có thể bước đầu kiếm một đồng/ngày; công nhân lành nghề một đồng rưỡi trở lên. Tôi định sau Tết sẽ xin đi làm ở nhà máy in Albert Portail lớn, có thể phát triển nghề nghiệp. Ở đó, tôi có một số bạn bè; vả lại, tay nghề mức đó mà chỉ làm ăn cơm không thì không tương ứng với sức lao động của tôi làm cho chủ. Trong thời gian học nghề, tôi còn làm thêm việc một lon ton.
Gần một năm học nghề ở Sài Gòn, tuy còn nhỏ tuổi, sau này tôi cũng nghiệm ra đó là một bước ngoặt của cuộc đời. Ở đó, đặc biệt có anh Toàn, một thợ sắp chữ, lớn hơn tôi chừng bảy, tám tuổi, tánh tình hiền hậu, điềm đạm, tuy không nói gì về cách mạng với tôi – vì tôi còn nhỏ - nhưng chính anh đã bí mật cho tôi mượn các “sách cấm” như sách viết về vua Hàm Nghi, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trấn Ba Đình (Đinh Công Tráng). Anh còn hứa sau Tết sẽ cho tôi mượn đọc nhiều “sách quý hơn nữa để có những hiểu biết mới về người ta”. Cũng mãi sau Cách mạng tháng Tám, tôi mới biết năm 1940, không lâu sau khi tôi vào Sài Gòn, Nam Kỳ Khởi nghĩa long trời lở đất đã nổ ra và bị địch dìm trong bể máu mà nào tôi có hay biết chút gì. Đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu mà bưng bít thật tài nên số đông đồng bào Sài Gòn chẳng biết được sự kiện này. Dù sao cũng có một việc địch không thể giấu, đó là Mỹ ném bom ở Xóm Chiểu làm chết hàng trăm lính nhật, đồng bào ta cũng có một số bị vạ lây. Cũng vì việc này mà sau Tết, cha mẹ không cho tôi vào Sài Gòn nữa vì “không biết rồi sẽ ra sao, lỡ có bề nào, gia đình chỉ có một mình mày là trai”. Tôi lại trở về với cảnh đồng quê yên ả giữa xóm làng. Tôi vui vẻ, hăng hái đi làm. Mùa cày gieo, tôi làm thuê cho các nhà nông thiếu lao động nên tôi sớm biết cày bừa, cả bên tá, bên dí đều thạo. Còn nhỏ nên người ta không cho gieo lúa vì gieo phải có kỹ thuật cao hơn.
Mùa nào việc ấy, tôi còn đi cuốc cỏ bắp, cỏ bông, nhổ mạ, cấy… Lớn chút nữa, đến mùa lúa chín, tôi đi gặt và ăn công đồng như mọi người. Các ông bầu gặt làng tôi có tinh thần đoàn kết tương trợ “trâu béo kéo trâu gầy”; không như bạn gặt Phan Rang vào, họ chia công nhứt, nhì, ba, tư rất sòng phẳng. Nếu vậy thì tôi mới chỉ đạt công nhì. Tôi rất thích gặt lúa vì đây cũng là một nghệ thuật, vừa phải dùng sức mạnh cơ bắp trong từng xác hái, vừa phải lùa lúa nhanh, nhiều, đều, không sót, chét không bị đứt gié lúa, đầu rạ bằng như thái.
Sức còn yếu mà lao động gặt quá nặng nên cứ gần trưa là tôi bị chảy máu cam, phải ngửa mặt lên hít mạnh, nhét trầu vào mũi rồi lại tiếp tục gặt. Đồng tiền làm ra từ lao động cật lực và đổ biết bao mồ hôi công sức mà lao động gặt là nặng nề nhất, đổ sức từng xác hái. Cơ thể cũng biết tự điều chỉnh, độ năm bảy ngày thì quen không chảy máu cam nữa. Ra sức suốt ngày, tối về nằm ê ẩm cả người, có điều ăn khỏe, ngủ ngon, qua mùa gặt lớn và rắn chắc hơn. Mùa gặt kéo dài hơn tháng, đây là làm khoán, đổ hết sức, ông bầu có nhiều kinh nghiệm nên giá trị ngày công khá cao, thường gắp hai ba lần làm công nhật. Ngoài tiền còn một phần lúa tương đương với tiền, lợi ích kinh tế cao. Cộng lúa hai cha con tôi gặt cùng số lúa của mẹ và hai em tôi mót thì ra Tết gia đình tôi có lúa cho nửa năm ăn. | |
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Ba, 2019, 10:45:32 am gửi bởi macbupda » | Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:49:18 am » | Năm 1943, cha mẹ tôi thường bị bệnh, bà nội tôi sau nhiều năm bị đau đầu đông, đã bị mù, các em gái nhỏ, em trai út mẹ tôi vừa sanh còn quá bé, đời sống gia đình tôi sa sút, lo chạy bữa ăn hàng ngày cũng là gánh nặng. Lúa trong cà tăng vơi đi nhanh chóng vì cả cái ăn và thuốc thang. Năm 1944, cha mẹ khỏe lại, gia đình đi phát miếng rẫy hơn một héc ta ở Sông Sỏi, bắc Sông Mao vài cây số, trồng bông cho Nhật, mỗi hộ được ứng trước hai mươi đồng để canh tác, đến thu hoạch phải bán hết cho Nhật, đáp ứng yêu cầu chiến tranh của chúng. Miệt mài lao động chăm sóc, cây bông lên đều, tốt. Tròng xen với bắp; thu hoạch bắp, cả nhà ăn bắp tươi luộc trừ cơm ăn hơn một tháng, ngon bổ, ai cũng mập mạp, hồng hào. Sắp đến mùa bông, hy vọng đời sống dễ chịu hơn. Cha con tôi ở chòi giữ rẫy chờ ngày bông nở. Bỗng một đêm tối, một đoàn vài chục người, gánh giỏ to, trang bị côn rựa, phản mác, đến vây chòi, lớn tiếng dọa:
- Ở yên trong chòi thì không việc gì, la lối chống cự thì chết. Bọn tao chỉ hái lứa đầu thôi, chủ nhà ăn lứa hai, lứa ba là được rồi, đừng dại chết uổng mạng, không ai tới cứu được đâu.
Nghe giọng nói biết đâu là số dân tỉnh ngoài đến ở xung quanh ga Sông Mao. Tiếng đồn họ võ nghệ cao cường và rất hung dữ; họ ăn cướp công khai, côn đồ chứ không lén lút. Tức chết mà không làm gì được vì thế cô sức yếu. Sáng ra xem lại thì trái đã nở và trái già bị lặt sạch, nghe đâu họ chở ghe bầu lùi ra Quảng bán rất được giá. Đến lứa thứ hai, một lần nữa họ lại đến cướp sạch. Có nhà xót của xông ra chặn bị họ đánh gần chết, của mất tật mang. Chỉ còn một vài lứa chót, may mà vừa đủ nạp trừ tiền ứng trước đầu mùa cho Nhật. Công sức mấy tháng trời đổ sông đổ biển. Gia đình tôi lại gồng gánh trở về làng cũ làm thuê như trước.
Sau khi ở Sài Gòn về, tôi hơi lớn, đọc các “sách cấm” về vua Hàm Nghi, Phan Đình Phùng… tôi càng ngưỡng mộ các bậc anh hùng hào kiệt, đã có những suy ngẫm của mình, dù chưa có hiểu biết gì về cách mạng, về chống Pháp, cứu nước. Tôi cũng khâm phục ông Cao Hành, một thủ lãnh nghĩa quân Cần Vương người làng tôi, đã lập chiến khu đánh Pháp một thời gian ở ngay khu rừng dưới xóm Sủng. Ôi! các cụ ngày trước có gan, có chí đánh Pháp cứu nước nhưng việc đánh giặc sao mà quá đơn giản. Học sử ký có trường thầy cũng có giảng là nghĩa quân thấy lính Pháp đi ôpa (đi đều) cho là chúng không có đầu gối bèn hái ổi non phơi khô đem rải trên đường rồi phục kích, chờ giặc đi qua giẫm lên trượt té không đứng dậy được mà xung phong tiêu diệt; thế là bị thất bại. Cha tôi cũng có kể lại việc này của nghĩa quân Cao Hành, tôi hỏi:
- Anh nói cho cha biết về ông Cao Hành?
- Ông nội.
- Dân làng mình có đi lính cho ông Cao Hành không?
- Có. Lính ông Cao Hành có một cơ, khoảng trăm rưỡi người.
- Ông nội có tham gia lính ông Cao Hành không?
- Không biết, ông nội không nói. Sau thất bại, giặc giết nhiều lắm, nếu ông nội có tham gia thì cũng đã trốn được, bởi nếu lộ thì đã bị họ chém đầu rồi.
- Cha biết chỗ đóng quân của ông Cao Hành không?
- Biết, ở đám rừng xuống xóm trường làng Xuân An.
- Sao chiến khu lại ở gần thành Bình Thuận dữ vậy?
- Hồi đó rừng còn rậm rạp lắm. Nghĩa quân canh gác ngày đêm, đánh trống mõ tùng tùng, cắc cắc rất nghiêm.
- Ông Cao Hành có bị chém đầu không?
- Ông chạy thoát được, về sau không nghe nói nữa. (Sự thật là sau đó ông cũng bị giặc Pháp bắt và hành hình ở Phan Thiết rất dã man).
- Số bị chém nhiều không?
- Ở Xuân Hội, Xuân An bị chém 12 người, bêu đầu ở Bến Tượng, đầu cầu Xóm Lụa. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:51:38 am » | Trong tâm trí non trẻ của tôi hiện ra những tưởng tượng về ông Cao Hành, tuy không thấy sử sách ghi lại như Phan Đình Phùng, Đề Thám, Đinh Công Tráng nhưng quê tôi cũng có phong trào Cần Vương cứu nước, tôi thật sung sướng trong lòng. Tôi rủ cha tôi dẫn đi xem khu vực đóng quân ngày xưa của ông Cao Hành. Chiều con, ông dẫn tôi đi xem. Bây giờ ở đây còn một con đường mòn đi từ sau nhà ông Hào Liệu qua một đám gai chùm lé chứ không còn là rừng nữa, đường trổ ra xóm trường, ở miễu Xuân An. Phía sau lưng và bên hông xóm hiện cũng chỉ là một khu gò mả trống với một ít bụi gai góc lưa thưa. Sau ngày giải phóng, tỉnh Bình Thuận viết lịch sử truyền thống có nhắc đến tên ông Cao Hành trong phong trào Cần Vương ở Bình Thuận. Trong cuốn sử Nam Trung Bộ kháng chiến cũng có tên ông Cao Hành. Giờ đây, làng Xuân Hội đặt tên con đường chính của làng, đi từ quốc lộ 1 qua giữa xóm đến xóm Sủng là đường Cao Hành.
Trong xóm có nhà anh Cao Đàm, một người anh họ nhà giàu. Cách mạng tháng Tám, Cao Đàm là lý trường đương nhiệm, giao chính quyền Xuân Hội cho Cách mạng xong, anh tham gia công tác Việt Minh luôn cho đến sau giải phóng, nghỉ hưu. Điều đặc biệt tôi muốn nói là anh Đàm có một tủ sách rất nhiều loại mà tôi được mượn đọc tùy thích. Sách hay có, dở có, chính trị có, tiểu thuyết có. Thời đó tôi đã biết gì về chính trị, thích thì mượn đọc, tôi rất thích đọc sách nên đọc gần như hết tủ sách. Mà cũng lạ, anh mua được nhiều sách hay, như Đông Kinh nghĩa thục, Vợ ba Đề Thám, Tôi trốn sang Tàu, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ… các sách này bổ sung thêm kiến thức cho tôi sau các sách cấm tôi được đọc ở Sài Gòn, làm tôi càng ngưỡng mộ các hào kiệt chí sĩ ấy. Sau Cách mạng tháng Tám, tôi biết Quốc dân đảng là phản động, còn lúc đó thì tôi vẫn trân trọng người nữ đảng viên Quốc dân đảng dám vượt gian khổ, hiểm nguy xuất ngoại mưu đồ giành độc lập. Tôi cũng được nhiều sách, tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, tiểu thuyết thứ bảy như Dưới bóng tre xanh, Đoạn tuyệt, Hồn bướm mơ tiên, Lá ngọc cành vàng, Gánh hàng hoa, v.v… một loại sách mà tôi cũng mê say đọc là Trung Nhật chiến tranh, Nhật Nga chiến kỷ, Trung Nhật yếu nhân, nên tôi biết nhiều chính khách, võ tướng Anh, Mỹ, Nga, Tàu, Pháp, Đức, Ý, Nhật v.v… Cuốn “Nhật Bản 30 năm Duy Tân” cho tôi biết Minh Trị Thiên Hoàng là người bỏ chính sách bế quan tỏa cảng, thực hành cải cách kinh tế, đưa nước Nhật thành một đế quốc hùng cường. Trong khi đó thì vua Tự Đức bỏ ngoài tai những bản điều trần tuyệt vời của Nguyễn Trường Tộ về cải cách kinh tế, xã hội nước ta.
Với số kiến thức tuy lộn xộn nhưng dù sao nó cũng mở mang tầm hiểu biết của một thiếu niên trẻ tuổi như tôi hồi ấy, cũng gạn lọc, hình thành dần trong tôi lòng ngưỡng mộ các nhà cách mạng yêu nước của ta. Những bậc siêu quần xuất chúng của thế giới. Tôi rất muốn noi gương các bậc tiền hiền thời ấy dù đâu biết phải làm gì.
Về Bác Hồ, nghe phong thanh là có một thanh niên Việt Nam yêu nước, cách mạng, tài nghệ siêu quần, đang hoạt động ở hải ngoại, lo việc giành độc lập cho Tổ quốc, tên là Nguyễn Ái Quốc, cái tên đẹp và cao quý làm sao! Có lúc lại nghe đồn Nguyễn Ái Quốc đang ở Nhật, sẽ đưa quân về đánh đuổi đế quốc Pháp nên cũng chỉ hy vọng, mong đợi vậy thôi, bởi có sách báo nào viết rõ, có ai giải thích đâu.
Ông nội mất lúc tôi mới lên ba, để lại một số sách quý, ngoài các sách học bậc cơ sở, toán pháp, cách trí, địa chí Trần Văn Thông, còn có các sách Tam tự kinh, Tam thiên tự, Ấu học Hán tự tân thư, Đại Nam quốc sử diễn ca, Chinh phụ ngâm, Kim Vân Kiều, Nam Hải dị nhân liệt truyện, Hưng Đạo Đại Vương truyện… Sự giáo dục của nhà trường, gia đình, việc đọc được một số sách hay đã nhen nhóm vun đắp cho tôi từ ấy lòng yêu nước thương nòi và có lẽ cả lòng ham thích quân sự cũng manh nha từ các sách về chiến tranh, từ những trận đánh giặc giả thời học trò chăng?
Từ cuối năm 1944, máy bay Mỹ thường bay dọc theo đường sắt, ném bom cầu sắt Nha Môn bắc ga Sông Mao, ném bom cầu xóm Lụa trên quốc lộ 1, chỉ cách nhà tôi mấy trăm mét. Có lần thấy máy bay Mỹ đuổi máy bay Nhật chạy tới bời. Có một trận đánh lớn giữa Mỹ và Nhật trên vùng biển Bình Thuận, không xa bờ lắm, dân ven biển Phan Rí Cửa, Duồng, La Gàn, Long Hương,… đều thấy rõ. Hàng đàn phi cơ Mỹ oanh tạc một đoàn tàu chiến lớn của Nhật chạy từ hướng nam ra, đội hình kéo dài đâu từ Vũng Tàu đến tận Mũi Dinh. Cao xạ Nhật bắn trả cũng dữ nhưng không thấy hạ được chiếc máy bay Mỹ nào, cũng không thấy máy bay Nhật tham chiến. Lính Nhật chết, bị thương, sống sót bơi và trôi tấp vào bờ rất nhiều. Dân không dám ăn các loại cá lớn vì trong thịt cá có nhiều sâu như là múi bưởi, người ta nói đó là do ăn xác lính Nhật. Có điều là dân biển vớ bẩm, ngư dân vớt được rất nhiều của trôi, các loại cờ rếp vàng rất đẹp bán cho thợ giầy đóng đế xăng đan, đế giày bán rất đắt. Dầu tàu thủy thì nhiều vô kể. Thời chiến tranh rất khan hiếm hàng hóa, phải thắp sáng bằng dầu cá, lơ mờ, hôi hám, nay thắp dầu xăng thì thật tiện lợi nhưng hay phựt ngọn, rất hao. Ai đó đã có sáng kiến rất hay, cứ bỏ vài hột muối vào mỗi lít dầu thì thắp sáng bình thường như dầu lửa, không hao, không phựt, giá lại rất rẻ. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #6 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:53:37 am » | Tôi có một người bà con tên là Trần Quang Lý làm thầy giáo, khi nghỉ dậy thì làm thầy thuốc bắc và bán cao đơn hoàn tán.
Năm 1948 anh Trần Quang Lý là bí thư huyện ủy Hòa Đa đầu tiên và đã mất vài chục năm nay.
Cha tôi có mua vài tháng nhật báo Sài Gòn. Lúc này ở phía nam có hai tờ báo hàng ngày là Sài Gòn và Điện Tín. Dù bị giặc Pháp kiểm duyệt gắt gao, tờ báo vẫn nói được một phần sự thật về thế chiến thứ hai. Tôi còn nhớ một bài báo có tựa đề là “Gấu Ó tranh hùng hay cuộc chiến tranh Nga – Đức” có đoạn viết: quân Đức hùng mạnh chỉ một thời gian ngắn đã chiếm gần hết châu Âu, đang cố gắng thôn tính Liên Xô, nhưng càng vào sâu nước Nga càng gặp nhiều bí ẩn khôn lường. Mùa đông giá rét kinh khủng đã gây nhiều khó khăn cho cuộc tiến công. Trận Xít-ta-lingờ-rát kéo dài nhiều tháng, quân Nga vẫn cầm chân quân Đức tại chỗ. Hai bên đánh nhau ác liệt, giành giật từng căn nhà, góc phố. Đức đã bị sa lầy ở mặt trận này của Nga Xô.
Ngày 8 tháng 3 năm 1945, Nhật lật Pháp, nắm quyền cai trị Đông Dương, trao độc lập cho Nam triều. Chánh phủ Trần Trọng Kim ra đời. Lý hương vẫn làm việc, vẫn đóng thuế thân, thuế chợ, cuộc sống không có gì khác trước, chỉ có người Nhật thì chuyên quyền. Một số ít người Nhật trước đây không thấy, không nghe nói đến, nay xuất hiện ở Hòa Đa, Tuy Phong, cũng đội mũ mềm kiểu Nhật, mang kiếm dài, đi giầy ống, nói vài tiếng Nhật, dù cũng không thấy họ làm gì.
Tôi vừa tuổi 18, bị làng bắt vào thanh niên phòng vệ; ai cũng phải vào, cả trai, gái, mặc đồng phục áo sơ mi trắng, quần sọc nâu, nón lá buông vành to bốn múi kiểu hướng đạo, trang bị một gậy dài 1,6 mét và một khoanh dây. Hàng ngày tập quân sự cơ bản, tập mótxơ, xêmapho, do các huynh trưởng huấn luyện. Để khi có việc, thanh niên phòng vệ phối hợp quân Nhật bảo vệ độc lập nước nhà (!). Tập quân sự, học mótxơ lúc đầu mới lạ cũng thích nhưng sau thì chán vì không thấy lợi ích gì, lại mất công việc làm ăn nên dần dần cũng nguội lạnh rồi tịt luôn. Nhưng có một phong trào khác lại thu hút số đông tuổi trẻ, đó là “Truyền bá quốc ngữ” dạy cho các em nghèo không được đến trường, dạy chữ cho bà con lớn tuổi còn mù chữ. Chúng tôi tham gia hăng hái vì đây là việc có ích mà mình có thể giúp bà con được. Lớp học dùng đình làng, các nhà rộng cũng vui lòng cho mượn. Các em học ban ngày, người lớn học buổi tối. Lần đầu tiên chúng tôi biết một phương pháp dạy học mới vừa vui, hay, dễ nhớ:
i tờ giống móc cả hai i ngắn có chấm, tờ dài có ngang, i tờ, tờ i ti…
… O tròn như quả trứng gà Ô thì đội mũ, ơ thì mang râu…
Nhiều người lớn, em nhỏ thông minh, mới một tháng đã biết đọc, biết viết.
Máy bay Mỹ đánh phá giao thông ngày càng nhiều, xóm làng được lệnh tổ chức “phòng không thụ động”, nhà nhà đào hầm ẩn nấp, các nơi công cộng cũng có hầm, một số được huấn luyện cứu thương, cứu sập. Một hôm, tôi cùng một số người đang đi trên cầu Xóm Lụa, nghe tiếng máy bay, chạy hụt hơi chưa khỏi cầu thì máy bay đã ở trên đầu, may sao nó đi thẳng, chẳng thấy đội Thần Phong đâu cả! Thời gian này có hàng đoàn người từ bắc kéo vào tìm việc làm, xin ăn, có người bán hoặc cho con nhỏ thật tội nghiệp. Đó là nạn đói khủng khiếp ở Bắc Bộ mà hồi ấy mọi người chưa biết là tội ác do giặc Nhật gây ra cho đồng bào ta. Bắt đầu có phong trào quyên góp và chở gạo ra Bắc giúp đồng bào bị nạn đói rất sôi nổi. Các thầy nhì Nguyễn Đình Huề, thầy nhất Thái Đức Cư đóng kịch rất hay, thường biểu diễn ở rạp hát Chợ Lầu, thu được bộn tiền mua gạo ủng hộ đồng bào ngoài Bắc. |
|
|