Anh hùng Lao động

Đường đến hội nghị Paris

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã giáng một đòn nặng nề vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc chính quyền Lyndon B. Johnson phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, tìm kiếm thương lượng để rút ra khỏi “vũng lầy” chiến tranh ở Việt Nam. Từ đây, diễn ra một cuộc chạm trán gay go, quyết liệt trên cả bàn hội nghị và tranh thủ công luận quốc tế

Đồng Nai11/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã giáng một đòn nặng nề vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc chính quyền Lyndon B. Johnson phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, tìm kiếm thương lượng để rút ra khỏi “vũng lầy” chiến tranh ở Việt Nam. Từ đây, diễn ra một cuộc chạm trán gay go, quyết liệt trên cả bàn hội nghị và tranh thủ công luận quốc tế.Ngày 7-5-1954, lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” hiên ngang tung bay trên nóc hầm De Castries, đánh dấu chiến thắng lẫy lừng của quân và dân ta sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thời điểm này, Hội nghị giữa các nước lớn đã khai mạc tại Thủ đô Geneva (Thụy Sĩ). Ban đầu, Hội nghị không bàn ngay về vấn đề Đông Dương, mà bàn về vấn đề chiến tranh Triều Tiên. Chỉ một ngày sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, ngày 8-5-1954, vấn đề Đông Dương lập tức được đưa lên bàn nghị sự.

Hội nghị Geneva năm 1954 diễn ra vào giai đoạn chiến tranh lạnh, khi cuộc đối đầu hai cực Đông - Tây đang ở cao trào, với sự chia cắt đất nước ở một số quốc gia. Trong bối cảnh đó, các nước lớn đều có những toan tính riêng về lợi ích của mình trên bàn cờ Geneva.


Sau những màn thương lượng, thỏa hiệp, một giải pháp cho vấn đề Việt Nam tương tự như Triều Tiên đã được các nước thông qua. Theo đó, nước Việt Nam bị tạm thời chia cắt thành hai miền qua vĩ tuyến 17 với khẳng định: “Dù bất cứ trường hợp nào, không thể coi đó là biên giới chính trị hay lãnh thổ”. Sự chia cắt đó chỉ là tạm thời, hai miền phải thống nhất trước tháng 7-1956 bằng tổng tuyển cử “tự do và dân chủ”. Nghiêm cấm quân đội nước ngoài xâm nhập lãnh thổ Việt Nam.

Việt Nam đến Hội nghị Geneva trong tư thế của một dân tộc chiến thắng. Nhưng tình thế lịch sử lúc đó buộc chúng ta phải chấp nhận giải pháp tạm thời để tranh thủ củng cố lực lượng cho một cuộc trường chinh mới mà Trung ương Đảng và Bác Hồ đã sớm nhận định là lâu dài và vô cùng cam go trước khi giành được độc lập hoàn toàn.Thực tế lịch sử đã chứng minh nhận định đúng đắn trên của Bác Hồ. Đế quốc Mỹ với nỗi ám ảnh về “Học thuyết Domino” và quyết tâm chống cộng triệt để đã từ chối ký vào văn bản hiệp định. Ngày 23-7-1954, nghĩa là chỉ hai ngày sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, Ngoại trưởng Mỹ Dulles tuyên bố: “Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương” (Lịch sử Việt Nam, Nxb, Giáo dục, 2003). Lợi dụng điều khoản của Hiệp định Geneva, đế quốc Mỹ đã dàn dựng một cuộc di cư ồ ạt vào Nam của gần một triệu người, chủ yếu là người Công giáo. Đồng thời, từng bước thiết lập chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam bằng cách tiếp tay cho Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, tổ chức trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại (23-10-1955), dựng lên một cuộc bầu cử gian lận để thành lập cái gọi là Việt Nam Cộng hòa ở nam vĩ tuyến 17.

Hiệp định Geneva đã để lại những kinh nghiệm và bài học đắt giá trên nhiều phương diện, nhất là việc vận dụng và quyết định ngay từ đầu lập trường cương quyết và đường lối đàm phán độc lập, tự chủ của Việt Nam tại bàn đàm phán Paris. Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương họp vào cuối tháng 3-1965, Đảng ta đã chủ trương nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, “chống tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin tưởng vào sức mình”. Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, "kiến trúc sư" cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã thừa nhận: Ở Geneva, họ (Việt Minh) thỏa hiệp để đổi lấy một lời hứa không được thi hành. Trong tương lai, thái độ sẵn sàng thỏa hiệp của họ với Washinhton hầu như không có... Ngoại giao với Hoa Kỳ sẽ phải chỉ diễn ra giữa Washinhton và Hà Nội hoặc không có gì cả.

Trong cuốn sách “Không hòa bình, chẳng danh dự”, nhà sử học người Mỹ Larry Berman cho rằng, Bắc Việt Nam đã học được một bài học đắt giá là họ không nên tin ai, không thể nhân nhượng điều gì khi thương thuyết. Tổng thống Richard Nixon đã học được bài học ở Geneva là dùng các đồng minh của Hà Nội để buộc Hà Nội phải nhân nhượng, nhằm đạt được một giải pháp chính trị mà những điều khoản được thỏa thuận sẽ không cần phải tôn trọng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đường đến hội nghị Paris | Câu chuyện thời hoa lửa