Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đường giao liên qua rừng Sa Lôn (Nhóm nhân chứng giao liên Khu VI và cán bộ căn cứ Bình Thuận - Lâm Đồng)

Lời kể/ký ức của các cựu cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Bình Thuận, cán bộ giao liên Khu ủy Khu VI và cán bộ cơ sở vùng căn cứ về những năm tháng bám rừng Sa Lôn, làm giao liên, đào hầm, vận chuyển gạo muối, thuốc men, bảo vệ cơ quan lãnh đạo trong kháng chiến chống Mỹ.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 3 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong buổi trở về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận ở rừng Sa Lôn, những nhân chứng tóc đã bạc, lưng đã còng, tay đã run nhưng mắt vẫn sáng khi đặt chân lên con đường rừng cũ. Với lớp trẻ đi cùng, Sa Lôn hôm nay là một địa chỉ đỏ, có nhà truyền thống, bia tưởng niệm, lối đi được dọn lại và những tấm bảng ghi dấu. Nhưng với các cô, các chú từng sống ở đây trong chiến tranh, Sa Lôn không phải chỉ là một di tích. Đó là nơi họ từng chạy càn, đào hầm, giấu tài liệu, gùi gạo, cõng muối, đưa thư, đưa cán bộ qua những lối mòn mà chỉ người trong căn cứ mới thuộc.

Rừng Sa Lôn nằm sâu trong vùng Đông Giang. Những năm kháng chiến chống Mỹ, đây là một trong những nơi Tỉnh ủy Bình Thuận và lực lượng Khu VI từng đứng chân để lãnh đạo phong trào cách mạng. Căn cứ không phải một doanh trại vững chắc. Nó là những lán nhỏ giấu dưới tán rừng, những căn hầm đào trong đất, những bếp Hoàng Cầm không được để khói bốc lên, những lối mòn phải xóa dấu chân sau mỗi lần đi qua. Ở đó, sự sống phụ thuộc vào bí mật. Một vệt khói bay sai hướng, một tiếng động ban đêm, một dấu dép còn mới trên bùn cũng có thể dẫn máy bay, pháo, biệt kích và các cuộc càn quét của địch ập đến.

Trong lời kể của những người làm giao liên, công việc của họ không có giờ cố định. Có khi vừa ăn vội nắm cơm đã phải lên đường. Có khi đang mưa rừng, suối dâng cao, vẫn phải vượt qua để đưa một mảnh giấy, một chỉ thị, một tin báo từ cơ sở này sang cơ sở khác. Những lá thư, tài liệu, tin tức ấy nhỏ bé trong túi áo, nhưng có thể quyết định cả một cuộc họp, một đợt chuyển quân, một lần tránh càn hoặc một kế hoạch bảo vệ cơ quan. Vì vậy, người giao liên phải thuộc rừng như thuộc chính bàn tay mình: con dốc nào dễ trượt, khúc suối nào có đá ngầm, bụi cây nào có thể giấu người, lối nào địch hay phục, giờ nào máy bay thường quần thảo.

Có những ngày, các cô, các chú đi giữa rừng mà không dám nói lớn. Người đi trước nhìn dấu cây, người đi sau xóa dấu chân. Đêm xuống, nếu phải dừng lại, mọi người tìm chỗ kín để nằm tạm, không đốt lửa, không để ánh sáng lộ ra. Mưa rừng làm áo quần ướt sũng, vắt bám đầy chân, đói bụng nhưng không dám mở gói gạo rang quá lâu vì sợ tiếng động. Nhưng điều đáng sợ hơn cả không phải là rừng sâu. Đáng sợ là lúc nghe tiếng máy bay xa dần rồi lại vòng trở lại, tiếng trực thăng quần trên đầu, tiếng pháo nổ đâu đó phía trước, và không ai biết đường mình sắp đi có còn an toàn hay không.

Những cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Bình Thuận từng sống ở căn cứ nhớ rất rõ những ngày thiếu thốn. Gạo không phải lúc nào cũng có. Muối, thuốc men, giấy viết, pin, dầu, dây điện đài đều quý như vàng. Có khi một chuyến gùi hàng phải đi trong nhiều ngày, tránh đường lớn, tránh làng bị địch kiểm soát, vòng qua suối, qua dốc, qua những khoảnh rừng rậm. Gùi gạo nặng trên lưng, nhưng ai cũng hiểu đó không chỉ là lương thực. Đó là sức sống của cơ quan, của cán bộ, của lực lượng bám căn cứ.

Trong những lời kể trở về Sa Lôn, hình ảnh bà Nguyễn Thị Lừa gây xúc động đặc biệt. Năm xưa, bà phụ trách công tác Hội Phụ nữ vùng căn cứ. Công việc của bà không chỉ là vận động phụ nữ, vận động đồng bào ủng hộ cách mạng. Bà còn cùng mọi người tổ chức nuôi giấu cán bộ, vận chuyển gạo muối, thuốc men, đào hầm bí mật, làm giao liên, đưa tin giữa các cơ sở cách mạng trong rừng sâu. Một người phụ nữ giữa chiến tranh phải gánh rất nhiều việc: việc của phong trào, việc của hậu cần, việc của liên lạc, việc giữ bí mật, và cả việc giữ tinh thần cho những người xung quanh.

Khi đã ngoài tám mươi tuổi, trở lại rừng Sa Lôn, bà Lừa vẫn nhớ từng gốc cây, từng con dốc. Có những nơi người trẻ nhìn chỉ thấy rừng, còn bà nhìn thấy lán trại cũ, bếp cũ, lối mòn cũ, nơi từng giấu tài liệu, nơi từng có đồng đội ngồi bàn việc, nơi từng có người đi rồi không trở lại. Bà nói mình sợ không còn dịp trở lại nữa. Câu nói ấy làm người nghe lặng đi, bởi với những nhân chứng đã ở tuổi xế chiều, mỗi lần về căn cứ cũ có thể là một lần cuối cùng được gặp lại tuổi trẻ của mình.

Bên cạnh những người giao liên, còn có những người làm cận vệ, hậu cần, cơ yếu, văn phòng. Ông Nguyễn Văn Hiền là một trong những người như thế. Ông từng tham gia cách mạng từ năm 1968, xuất thân từ cơ sở quần chúng vùng căn cứ, sau đó được giao làm cận vệ, trực tiếp bảo vệ Bí thư Tỉnh ủy trong những năm bom đạn ác liệt. Làm cận vệ ở rừng không chỉ là cầm súng đứng gác. Đó là nghe ngóng từng tiếng động, kiểm tra từng lối ra vào, chuẩn bị đường rút khi có càn, bảo vệ tài liệu, bảo vệ người chỉ huy, và nhiều khi phải lấy chính mạng sống của mình che cho cơ quan đầu não.

Ông Hiền còn tham gia hậu cần: lo từng nắm cơm, từng vại nước, dựng lán, tiếp tế gạo muối cho cơ quan lãnh đạo. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông được điều đi mở đường chiến dịch, đào đất, bắc cầu, gỡ mìn, vận chuyển lương thực. Công việc ấy không hiện lên trên bản đồ chiến thắng bằng những mũi tên lớn, nhưng nếu không có những con đường được mở, những quả mìn được gỡ, những bao gạo được chuyển tới, thì bộ đội khó có thể tiến nhanh đến ngày toàn thắng.

Các nhân chứng kể rằng rừng Sa Lôn từng có những ngày rất khắc nghiệt. Địch đánh phá, lùng sục, càn quét. Cơ quan phải di chuyển liên tục. Có lúc vừa dựng lán xong đã phải dỡ đi. Có lúc bếp vừa nhóm đã phải dập lửa. Có lúc tài liệu phải chôn xuống đất, điện đài phải giấu thật sâu, người bị thương phải đưa đi trong đêm. Những căn hầm đào vội dưới tán cây từng che chở bao cuộc họp, bao lần tránh bom. Những bếp Hoàng Cầm từng giữ cho khói không lộ giữa rừng. Những đường giao liên từng nối Sa Lôn với các cơ sở cách mạng ở Bình Thuận, Lâm Đồng và vùng Khu VI cũ.

Điều làm người nghe xúc động là khi kể lại, các cô, các chú không nói nhiều về công lao của mình. Họ thường nhắc đến đồng đội. Có người hy sinh khi làm cảnh vệ. Có người hy sinh khi giữ máy vô tuyến. Có người nằm lại khi đi giao liên, khi vận chuyển lương thực, khi bảo vệ cơ quan. Trong truyền thống Văn phòng Khu ủy Khu VI, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống. Con số liệt sĩ không chỉ là thống kê. Đằng sau đó là những gương mặt, những cái tên, những bữa cơm còn dang dở, những chuyến công tác không trở về.

Ngày nay, khi hơn 200 đoàn viên, thanh niên đến dâng hoa, dâng hương tại Nhà truyền thống và bia tưởng niệm ở Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận, các nhân chứng ngồi kể lại chuyện xưa không phải để làm người trẻ buồn. Họ kể để người trẻ hiểu rằng con đường hôm nay đi bằng xe, bằng giày sạch, bằng tiếng cười trong ngày về nguồn, từng là con đường của đói rét, bom đạn và hiểm nguy. Họ kể để nói rằng độc lập không phải điều tự nhiên mà có. Nó được giữ bằng những người giao liên không tên, những cán bộ văn phòng âm thầm, những bà mẹ, người chị gùi gạo qua rừng, những chiến sĩ cận vệ thức trắng đêm trong mưa.

Câu chuyện của nhóm nhân chứng giao liên Khu VI và cán bộ căn cứ Bình Thuận - Lâm Đồng vì thế không gói trong một trận đánh cụ thể. Nó là câu chuyện về một căn cứ bám rừng, về một mạng lưới giao liên bền bỉ, về những con người đã sống nhiều năm trong thiếu thốn nhưng không rời nhiệm vụ. Rừng Sa Lôn hôm nay xanh lại, dấu bếp cũ có nơi đã mất, hầm cũ có nơi chỉ còn vết lõm trong đất. Nhưng trong ký ức của các nhân chứng, từng tấc rừng vẫn còn tiếng bước chân người giao liên, tiếng nước suối Chín Khúc, tiếng mưa đập lên mái lán, tiếng thì thầm trao tin trong đêm và tiếng gọi tên những đồng đội không còn trở về.

Đường giao liên qua rừng Sa Lôn không chỉ là đường đi trong chiến tranh. Đó là đường nối căn cứ với phong trào, nối người dân với cách mạng, nối Bình Thuận - Lâm Đồng với Khu VI và nối quá khứ với hiện tại. Mỗi lần các nhân chứng trở về kể lại, con đường ấy lại hiện lên rõ hơn trong lòng người nghe: một con đường không trải nhựa, không có biển chỉ dẫn, nhưng được mở bằng lòng tin, bằng mồ hôi, bằng máu và bằng niềm tin chắc chắn rằng đất nước rồi sẽ có ngày hòa bình.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Lâm Đồng: chương trình “Câu chuyện thời hoa lửa” tổ chức sáng 10/4/2026 tại Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận, xã Đông Giang, Lâm Đồng, với hơn 200 đoàn viên, thanh niên dâng hoa, dâng hương và giao lưu với các cựu chiến binh, nguyên cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Bình Thuận, nguyên cán bộ giao liên Khu ủy Khu VI.

Bối cảnh Khu VI được đối chiếu từ Báo Lâm Đồng: Khu VI thành lập năm 1961, gồm Đắk Lắk, Tuyên Đức, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng, lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng căn cứ và mở hành lang chiến lược nam Tây Nguyên. Các chi tiết về rừng Sa Lôn, các bộ phận văn phòng, cơ yếu, cảnh vệ, giao liên, suối Chín Khúc, bếp Hoàng Cầm, hầm căn cứ và chuyến trở về khảo sát căn cứ được đối chiếu từ bài “Đi tìm Khu căn cứ Tỉnh ủy trong kháng chiến ở rừng Sa Lôn”.

Chi tiết về bà Nguyễn Thị Lừa từng làm công tác Hội Phụ nữ vùng căn cứ, vận động nhân dân, vận chuyển gạo muối, thuốc men, đào hầm bí mật, làm giao liên, đưa tin; và ông Nguyễn Văn Hiền từng làm cận vệ, hậu cần, bảo vệ Bí thư Tỉnh ủy, tham gia mở đường chiến dịch, gỡ mìn, vận chuyển lương thực được đối chiếu từ bài “Trở về Sa Lôn - nơi thời gian dừng lại trong ký ức”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn