Nhiều bạn tôi trong quân đội đã viết hồi ký của mình và khuyên tôi viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ đời mình có gì đáng viết và viết để làm gì? Nên chưa viết được.
Nay mọi việc công tư cơ bản đã xong, có thời gian tương đối nhàn rỗi, ôn lại chuyện cũ, nhớ lại một thời dĩ vãng mình đã qua và lưu lại cho con cháu, chắt, nội ngoại biết ông cha mình trước đây đã sống và chiến đấu như thế nào.
Đến tuổi 75 tôi mới bắt đầu tự tay mình viết lại những dòng ghi nhớ cuộc đời đã qua. Tôi không biết viết văn, vì không phải là nhà văn. Củng có mấy lần có nhà văn gọi điện thoại, có lần gửi thư kèm theo đề cương nội dung yêu cầu đến phỏng vấn cuộc đời hoạt động của tôi. Nhưng tôi đã cảm ơn vì thấy bản thân không có vấn đề gì lớn cần viết sách hoặc đăng báo và bởi thấy sự đóng góp của cá nhân mình chỉ là một hạt cát trong biển cả mênh mông. Sức mạnh to lớn là của quân đội và nhân dân ta, nên không muốn nói cái gì riêng về mình. Tôi chần chừ mãi, đã 8 năm qua.
Nay sang tuổi 83, tôi muốn để lại một chút kỷ niệm cho đơn vị cũ và những người thân, nên tôi nhớ gì tự tay viết nấy, cả cuộc đời tư và công tác phục vụ cách mạng, phục vụ quân đội.
Tôi sẽ kể lại từ thời học sinh, bước vào phục vụ cách mạng, trong quân ngũ, từ người lính trở thành cán bộ, khi ở đơn vị chiến đấu, khi về công tác ở cơ quan. Từ những ngày trước khởi nghĩa, qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia. Ghi lại những kỷ niệm vui buồn không bao giờ quên, trong những ngày chung sống, chiến đấu và công tác với các bạn quốc tế, các nước láng giềng (Lào, Campuchia) và các bạn Trung Quốc, Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cu Ba...
Tôi sẽ kể lại những điều mà tôi đã học được trong cuộc đời phục vụ quân đội.
Lúc ở đơn vị cơ sở, tôi đã học tập được anh em cán bộ, chiến sĩ đồng đội, trong cuộc sống và chiến đấu.
Thời gian công tác ở Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, tôi đã học tập được nhiều kinh nghiệm và tác phong công tác của các Thủ trưởng Cục trực tiếp và cán bộ đồng nghiệp trong cơ quan nhưng không thể nhớ và ghi lại hết.
Trong cuốn “ghi nhớ” này, tôi chỉ có thể nhớ lại những hình ảnh và đức tính tốt đẹp của một số Thủ trưởng Bộ mà tôi đã được phục vụ trong từng thời gian hay nhiều lần tiếp xúc (có một số Thủ trưởng nay không còn nữa) mà tôi rất cảm phục. Tôi chỉ nêu lên những ưu điểm nổi bật mà tôi đã học tập được. Tôi không dám nhận xét đánh giá toàn diện, tài năng đức độ, vì tôi chí biết một thời gian không biết toàn bộ cuộc đời hoạt động của các đồng chí; còn khuyết điểm, nhược điểm thì không ai có thể tránh khỏi như Bác Hồ thường nói.
Tuy rằng kể ra còn chưa đầy đủ và do khuôn khổ cuốn sách này, không thể kể ra hết với tất cả các Thủ trưởng Bộ khác.
Trong thời gian công tác ở Bộ Tổng Tham mưu, tôi củng nhớ lại và suy nghĩ về một số sự kiện đã xảy ra mà tôi được biết. Nhưng với tư cách cá nhản, trước những vấn đề lớn đã và đang tiếp tục được tổng kết , tôi không thể nói ra hết được các chi tiết, về các sự kiện, nhân chứng.
Tôi nhớ lại và nêu lên những suy nghĩ của cá nhân mình về một số chiến dịch do Bộ chỉ đạo mà tôi được tham gia học tập. Nhưng không nói cụ thể về chủ trương, sử dụng lực lượng, diễn biến chiến dịch, các trận đánh; vì đã trình bày rõ trong các bản tổng kết chiến lược, tổng kết các chiến dịch các trận đánh của Viện Lịch sứ Quân sự và của các cơ quan tổng kết.
Do tuổi đã cao, sức khỏe có mặt hạn chế, tôi nhớ gì viết nấy nên không tránh khỏi nhầm lẫn về sự kiện, thời gian, địa danh, tên tuổỉ bạn bè, có thể bỏ sót nhiều việc đáng nói trong đời mình. Rất mong nhận được sự thông cảm, độ lượng, góp ý kiến bổ sung của bạn đọc.
Cuốn sách này tôi đặt tên là “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh”. Tuy là những việc ghi nhớ trong cả “cuộc đời’’ của tôi, hơn ba phần tư thế kỷ, nhưng nói về chiến đấu và công tác từ đơn vị cơ sở lên Tổng hành dinh thì chí là việc cống hiến rất nhỏ bé của tôi trong cuộc đời phục vụ quân đội và cách mạng.
Nhân cuốn sách được ra mắt bạn đọc, tôi xin chân thành cảm ơn Đại tướng Lê Văn Dũng - Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; cố Đại tướng Văn Tiến Dũng - nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trần Văn Quang; Trung tướng Nguyễn Thới Bưng - nguyên Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng cùng nhiều vị tướng lĩnh trong Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến các thời kỳ, các đồng chí, đồng đội dã động viên, tham gia góp ý kiến. Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện hoàn chính bản thảo, cho ra mắt bạn đọc cuốn sách này vào dịp kỷ niệm 64 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
TÁC GIẢ | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 11:55:16 am » |
Chương một THỜI NIÊN THIẾU VÀ NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦU TRONG QUÂN NGŨ Tôi sinh ra tại làng Phổ Đông, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình tiểu tư sản, tiểu thương. Mẹ tôi bán hàng nhỏ ở chợ Vinh, trong cải cách ruộng đất xác định là dân nghèo thành thị. Từ nông thôn ra ở ngoại ô thành phố Vinh trong một xóm gọi tên “Yên Giang” - “một 'dòng sông bình yên”. Nhưng lại là một nơi không “yên bình” chút nào. Trong một xóm nghèo đa số là dân lao động, hàng ngày dân nghèo đụng chạm với một tay đội “cu lít” tên là “Bát Tạo”, nó đi về hoạnh họe đánh dân. Ai đi đường không tránh nó, nó hỏi biết tao là ai không? Dạ là “cụ Bát Tạo ạ”, nó nói “Bát Tạo” là “bạo tát” rồi vô cớ tát tai dân. Sau này vào năm 1944 - 1945 những cảnh chết đói đầy đường, hàng đoàn xe ba gác chở xác người từ thành phô" qua cầu Cửa Tiền ra xóm Yên Giang chôn vào nghĩa địa trước mặt nhà tôi (Cồn Đền). Những hình ảnh ấy bắt đầu để lại trong đầu óc tôi.
Gia đình tôi vốn có chút ít học hành, cha tôi trước đây có học chữ Hán (không biết trình độ nào) nhưng dân làng thường gọi “ông Tú” và buổi giao thời “Hán Nho” thất thế, cũng học được ít tiếng Pháp, nên có thời gian làm thư ký Sở Địa chính (Cadastre). Nhưng tính tình cũng không ổn định nên khi làm, khi bỏ việc; đi giúp người ta ghi chép buôn bán gỗ miền ngược. Mẹ tôi con một gia đình cân thuốc bắc ở thành phố Vinh, hồi nhỏ cũng được học biết chữ quốc ngữ, bà con khen “con người hiền hậu sẽ để lại phúc lộc cho con cháu sau này”, tần tảo lo nuôi con ăn học.
Giấy khai sinh của tôi khi vào học lớp đồng ấu (cours enfantin) là 10 tháng 6 năm 1926. nhưng cũng không biết ngày đó có phải là ngày sinh chính thức của tôi không? Vì hồi nhỏ có khi nghe cha mẹ tôi nói “nó phải khai thêm một tuổi mới đủ tuổi vào trường công”, có khi nói tuổi Dần, có khi nói tuổi Mão. Tên họ tôi từ khi khai sinh đến giờ là một “Hoàng Nghĩa Khánh”, giữ nguyên dòng họ, tổ tông “Hoàng Nghĩa”. Tôi chẳng có “bí danh” gì cả, vì chẳng có gì phải bí mật. Mà cũng chẳng có “pháp danh”, “giáo danh” gì cả, vì gia đình tôi không theo đạo nào. Hồi nhỏ có lần tôi nghe mẹ nói có một ông thầy “tướng số” nào đó xem “tử vi” cho tôi bảo là tôi có “số tốt” nên được “quý nhân phù trợ”! Có phải thế, nên có lần tôi đi thi xe đạp từ Vinh vào Hà Tĩnh để lấy bằng thể thao “Brevet d'Taudax”, hòng đi thi bằng cấp có được thêm điểm. Nhưng khi đi từ Hà Tĩnh về không có tiền ăn, đói lả nằm lăn ra đường bên núi Hồng Lĩnh. Có một ông đồn kiểm lâm chợ Củi dìu về nhà cho ăn ngủ tại nhà một đêm (bà vợ rất thương vi ông bà không có con). Cả đêm đó thầy tôi đi xe kéo tay suốt đêm dọc đường Bến Thủy, Hà Tĩnh tìm tôi không thấy. Đến 3 giờ sáng tôi tỉnh dậy lặng lẽ lấy xe đạp về nhà, vì sợ làm phiền ông bà mất giấc ngủ nên cả nhà không ai biết, mà dạo ấy đường dọc núi Hồng Lĩnh nhiều vụ cướp giết người lấy của, cũng may! Tôi cũng nhớ ông bà đồn kiểm lâm chợ Củi mà khi ra đi quên không một lời chào cảm ơn ân nhân của mình. Sau này nhiều lần qua đường Hồng Lĩnh nhớ lại cảnh cũ người xưa, tôi dừng xe đứng xuống đường nhìn ngôi nhà ở bến đò chợ Củi, chỉ còn thấy nền nhà nhưng không biết ông bà đó còn sống hay đã chết, bây giờ ở đâu?
Trong những năm học trung học trường Thuận An ở Vinh mà hiệu trưởng là thầy Võ Thuần Nho (em ruột ông Võ Nguyên Giáp); có nhiều thầy học như cụ Hoàng Đức Thi, Trần Hậu Toàn... và nhiều thầy khác, hồi đó nghe nói là những thầy “ương ngạnh”, “cứng đầu” nên không được dạy ở trường công, hùn nhau mở trường tư. Ớ tuổi trưởng thành của tôi cũng đâ bắt đầu tiếp thu những chuyện “chống đốì nhà nước, quan Tây”, chuyền tay nhau đọc những sách về phong trào chống Pháp như cuốn “Nguyễn le patriote” “Nguyễn Ái Quốc”. Không nhớ ai viết, nhà xuất bản nào? Chắc nội dung xuyên tạc nhiều, nhưng nghe tên sách đã bắt đầu biết ông Nguyễn Ái Quỏc và tò mò thích đọc. Rồi cùng lớp học sinh thanh niên hồi đó có buổi tham gia cuộc tụ tập ném đá vào nhà hiệu bán vải của dân tư sản Ấn Độ da đen (do ức hiếp đánh các cô gái ở thôn quê ra thành phố làm đầy tớ cho cửa hiệu) ở đường Albert Sarraut. Một ngày tháng 4-1941 tôi theo cùng bạn bè lớp học “bãi khóa”, bỏ học, đi lên cổng chốt tham gia tụ tập chống việc xử bắn “Đội Cung”. Những ngày sau bị bọn phòng nhì “2e bureau” đến lớp dọa nạt, nhưng các thầy đã có ác cảm với “đầy tớ Tây”, cũng lờ đi cho qua chuyện.
Tốt nghiệp với bằng thành chung “Diplome”, tôi bắt đầu chạy xin việc làm. Trong buổi giao thời “Pháp - Nhật” nên khó kiếm nghề nuôi thân. Tôi định lên dạy một trường tiểu học tư ở Nghĩa Đàn, bắt tay vào nghề mà bạn học lúc đó gọi là nghề “godautre” (gõ đầu trẻ). Nhưng cha mẹ tôi sợ “vùng rừng núi nước độc” chưa cho đi. Tôi lại tham gia vào “hội truyền bá quốc ngữ” và dạy ban đêm một lớp “bình dân học vụ” ở một ngôi chùa gần cầu Cửa Tiền.
Vào một buổi sáng đầu tháng 4 năm 1945, tôi về nhà thấy một tờ báo của Mặt trận Việt Minh (Nghệ An) in bằng tay, không biết ai quẳng trên màn ở chiếc phản tôi ngủ, gần đường hẻm qua nhà. Tôi lén lút đọc thấy hay và giấu kín. Rồi sau đó vài ngày, tôi nhận được tiếp mấy tờ báo nữa. Từ đó tôi được bạn bè rủ đi tham gia đội tự vệ của xóm, vào “đội thanh niên cứu quốc” của Việt Minh. Do có trình độ văn hóa hơn thanh niên trong xóm, nên tôi được cử làm đội trưởng đội tự vệ xóm Yên Giang, cùng hăng hái tham gia đội bóng đá của xóm, buổi tôi đi dạy bình dân học vụ. Rồi đến một buổi sáng tháng 8 năm 1945 (23/8/1945) dòng người cuồn cuộn từ các làng ở nông thôn, ở chợ Tràng, già trẻ trai gái, tay cầm gậy, giáo, mác, vừa đi bộ vừa hô khẩu hiệu chống phát xít, vào thành phố Vinh. Đội tự vệ chúng tôi cũng tay cầm giáo mác gậy gộc cùng đoàn biểu tình đi qua Cửa Tiền vào tòa công sứ cũ của Pháp, vào thành nội. Nha Giám binh, kéo qua các đường phố Vinh (Boulevard Destenay, Marechal Foch...), xuống nhà máy Trường Thi, Bến Thủy, ... Ngày hôm sau cả thành phố treo cờ đỏ sao vàng, dự lễ ra mắt của chính quyền cách mạng mới thành lập (do ông Tài làm chủ tịch...). Các buổi tối đến các nhà tư sản lớn nghe đài phát thanh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (các chủ nhà đặt máy phát thanh ngoài cửa cho dân nghe) và tụ tập ở ngã Ba chợ Vinh nghe diễn thuyết, cùng nắm tay phải qua đầu hát các bài ca Cách mạng (Diệt phát xít...).
Trong tiểu đội lúc này chỉ có gậy gộc, đại đao tự rèn, tôi và một vài đồng đội đêm đến trại hiến binh Nhật (chiếm đóng ở cửa hiệu Gô Đa) nhặt trộm các xắccốt, ghệt da, kiếm cũ của quân Nhật để lại về trang bị thêm cho tiểu đội. Cũng từ đó đội tự vệ cứu quốc của chúng tôi bắt đầu công khai hoạt động, chiều nào cũng vừa đi “một, hai” vừa hát “Tiến quân ca”., lên Cồn Đền tập quân sự.
Có đêm đi tập trận giả với gậy tre vót nhọn và đại đao, nằm ép sát bờ sông Cửa Tiền, tập đánh chiếm lại tòa công sứ cũ (nay là cơ quan ủy ban Cách mạng).
Từ một học sinh thuộc tầng lớp dân nghèo thành thị, sống ở xóm ngoại ô thị xã Vinh, học hành không được liên tục, nhưng nhờ các ông chú, ông cậu và họ hàng giúp đỡ, chỉ học tốt nghiệp được bằng thành chung. Trong phong trào Cách mạng được giác ngộ và đi theo con đường cứu quốc để giành độc lập tự do. Từ một học sinh vào đời trong đoàn thanh niên cứu quốc, đội tự vệ chiến đấu thành Vinh, rồi gia nhập vào hàng ngũ quân đội. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 11:58:56 am » | *
* * Ngày 1 tháng 9 năm 1945, tôi gia nhập Quân chính cục, trụ sở đóng trong một nhà tư sản ở cổng Chốt, đồng chí Trần Văn Quang làm Quân chính Cục trưởng, sau đổi tên thành Vệ Quốc quân. Do nhu cầu trang bị cho bộ đội, tôi được chuyển sang một đội sản xuất lựu đạn do anh họ tôi là Phạm Mỹ Vinh làm quản đốc, binh công xưởng đặt trong nhà thờ Xã Đoài (bắc thị xã Vinh).
Mấy tháng sau, tôi ngồi xem một công nhân lắp lựu đạn do không hiểu về kỹ thuật, sơ ý làm tụt cò lựu đạn, bị nổ đứt lìa cánh tay, còn tôi được gọi về lại Cục Quân chính. Với tính tò mò hòng đem kinh nghiệm ấu trì của mình nhồi thuốc súng để làm lựu đạn tặng đội tự vệ cũ của mình, bị cháy bỏng mặt, tay chân, phải nằm bệnh viện Vinh mất một tháng. Ra viện một thời gian tôi được giới thiệu đi học trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa một ở Sơn Tây, với tiêu chuẩn lúc đó là một học viên phải có bằng Thành chung trở lên.
Vào đầu năm 1946, tôi từ giã gia đình, lần đầu tiên xa quê hương lên tàu hỏa ra Hà Nội để nhập học trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa một ở Sơn Tây.
Thê là một cuộc sống mới lại bắt đầu! Một học viên của trường Võ bị chính qui đầu tiên của quân đội ta. Được rèn luyện 6 tháng trong một trường quân sự cách mạng, trước đây là trường sĩ quan cũ của quân đội Pháp, với những khu học xá đẹp trên một ngọn đồi ở ngã ba tỉnh lỵ Sơn Tây đi lên khu quân sự Tông (Hòa Lạc), do ông Hoàng Đạo Thúy làm Giám đốc và ông Trần Tử Bình làm Chính ủy.
Tốt nghiệp trường Võ bị (cuối năm 1946) trong hoàn cảnh kháng chiến toàn quốc đã nổ ra. Chúng tôi được điều về Hà Nội vào một đêm mà trong thành phố đã có nhiều cuộc đụng độ quân sự. Tiếng súng, lựu đạn, pháo nổ khắp nơi. Sau đó, mỗi người chúng tôi được điều đi công tác ở các đơn vị tôi được điều về làm trung đội trưởng ở chi đội Đội Cung (sau này là trung đoàn 57 tiếp phòng quân) đóng quân trong doanh trại của quân Pháp cũ (gọi là Caserne Liautey) ở Bến Thủy, thị xã Vinh.
Thời kỳ này Liên khu 4 chuẩn bị thành lập trường “Kháng chiến học hiệu”. Do được đào tạo từ một trường quân sự chính qui ra, một tháng sau tôi được điều động về khung trường “Kháng chiến học hiệu” đóng quân trong khu “thành nội” - thị xã Vinh để vừa bồi dưỡng cho cán bộ khung, vừa triệu tập học viên.
Sau khi được thành lập, thầy trò “Kháng chiến học hiệu” hành quân lên đóng quân ở đồn khố xanh cũ ở xã Cát Văn huyện Thanh Chương để bắt đầu khai giảng. Nhà trường lúc đó chỉ có hai đại đội học viên do đồng chí Nguyễn Thanh Đồng, nguyên Chính ủy Liên khu 4 làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy. Có một cán bộ Trung Quốc tên là Trần Quang (nghe nói là một tiểu đoàn trưởng của giải phóng quân Trung Quốc ở Hoa Nam, bị đánh dạt từ Quảng Tây sang) và hai cán bộ quân sự Trung Quốc khác làm huấn luyện viên trường ở cấp đại đội, tôi làm trung đội trưởng huấn luyện một trung đội học viên.
Là một huấn luyện viên được nhận xét là khá ở nhà trường, nên tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 10 tháng 2 năm 1947 (thời kỳ này Đảng đã lui vào hoạt động bí mật) do đồng chí Lê Trung - Chủ nhiệm Chính trị hiệu bộ và đồng chí Lê Cần - Chính trị viên trung đội giới thiệu. Qua 3 tháng, Trường Kháng chiến học hiệu bế giảng, đầu năm 1947 tôi được điều động về làm Đại đội trưởng Đại đội 83, tiểu đoàn 199 (sau này đôi phiên hiệu là tiểu đoàn 400) thuộc trung đoàn 103 Hà Tĩnh do đồng chí Tùng Lâm là Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Quang Minh là Chính ủy. Về làm đại đội trưởng với tuổi 20, dáng người thư sinh, trong khi một người đội khố xanh hơn tôi gần 10 tuổi làm quyền đại đội trưởng, phải hạ xuống làm đại đội phó, nên tôi bị thử thách nhiều với ông ta. Có lần ông rủ tôi cùng ông, hai người phi ngựa nước đại từ Chu Lễ lên Tân Ấp, xóm Cúc (gần biên giới Việt - Lào) hoặc trong những buổi thi bắn bia cùng đại đội. Nhưng dần dần tôi được anh em tín nhiệm và ông đại đội phó đó cảm phục.
Đại đội cơ động nay đây mai đó, sống trong nhà dân trong tình cảm thắm thiết với đồng bào địa phương và sự chăm sóc chu đáo của các “bà mẹ chiến sĩ”. Mỗi lần đến làng dân mừng, mồi lần ra đi dân quyến luyến chia tay, tình cảm quân dân thắm thiết đúng như bài hát:
“Các anh đi ngày ấy đã xa rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi...
Các anh về tưng bừng trước ngõ
Lớp lớp đàn con hớn hờ chạy theo sau,
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về..”
Tình cảm quân dân như “cá nước”, tình nghĩa đồng đội cán bộ chiến sĩ chan hòa như anh em trong một gia đình. Rồi đến cuối năm 1947 tôi được đề bạt làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 400 (đồng chí Trần Mạnh Đàn làm tiểu đoàn trưởng, Mai Trọng Thường làm chính trị viên) và tiểu đoàn bắt đầu rời Hà Tĩnh vào Quảng Bình chiến đấu. | |
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Năm, 2016, 09:23:18 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 12:01:32 pm » | Được bắt đầu rèn luyện trong các trận chiến đấu từ các trận đánh đồn Ba Đồn (Quảng Trạch), chống càn ở Cự Nẫm (BốTrạch) rồi vượt Liên U, Ba Rền (trên dãy Trường Sơn) vào chiến khu Quảng Ninh (anh em gọi là chiến khu Ruốc, vì thức ăn chỉ toàn rau tàu bay hay rau khoai lang nấu với ruốc Quảng Bình). Tiểu đoàn hành quân tiếp vào chiến khu Rợn - Bang - Đan Quế (Lệ Thủy). Với trận đánh đồn Phú Hòa, bắt sông tên đồn trưởng Pháp.
Tiếp sau đấy, một trận đánh đồn bằng binh vận là đồn Mỹ Trạch, tôi được cử đi bắt liên lạc với ông đội Thời, chỉ huy phó đồn Mỹ Trạch (đồn trưởng là người Pháp). Đi đêm từ chiến khu ra, từ rừng xuống đồng bằng, nhân mối đưa tôi vào một nhà bỏ hoang, báo ở đấy chờ đội Thời để ra bắt liên lạc, bàn việc binh biến giết chỉ huy và lính người Pháp để cướp đồn. Tôi và một chiến sĩ ngồi chờ suốt ngày, không thấy đội Thời đến, thỉnh thoảng thấy các toán lính cả Pháp và người Việt đi tuần qua lại ngoài hàng rào, bắn vài phát đạn “đum đum”, hai tiếng nổ “tắc bọp”. Tôi và một chiến sĩ đi cùng vào buồng ẩn nấp của nhà bỏ hoang, đến tối không bắt liên lạc được với đội Thời, lại trở về chiến khu Bang trong đêm đó. Ngày hôm sau nhân mối báo tin, sở dĩ đội Thời không ra gặp được vì do tên đồn trưởng người Pháp giữ lại trong đồn không cho ra làng và hẹn hai hôm sau đưa tiểu đoàn đến bao vây đồn vào 12 giờ đêm, chờ khi nào trong đồn lính Việt mở cửa và bắn chết tên đồn trưởng, lính Lê dương người Pháp, thì đơn vị xông vào chiếm đồn. Nằm ép sát đồn chờ mãi đến 3 giờ sáng vẫn không thấy động tĩnh gì, sợ trời sáng hành quân về đường đồng bằng bị lộ, phải lui quân; nhưng khi cả đơn vị vừa vào tới bìa rừng thì 5 giờ sáng nghe tiếng súng nổ trong đồn. Cả đơn vị đứng nhìn về đồn Mỹ Trạch tiếc ngẩn ngơ. Đến ngày hôm sau đội Thời cùng 3 lính chạy về chiến khu, bảo là phục mãi đến 5 giờ sáng mới tiếp cận được nhà ngủ của tên đồn trưởng Pháp, bắn súng vào nhà và rút chạy thoát thân.
Thế là một trận đánh đầu tiên bằng binh vận không thành công, do hiệp đồng không chặt chẽ, kế hoạch không tỉ mỉ!
Tiểu đoàn 400 cơ động chiến đấu hầu khắp các huyện trong tỉnh Quảng Bình trong hơn một năm, khi đánh tập trung cao là tiểu đoàn thiếu đại đội, thông thường đánh từng đại đội, nhiều trận cấp trung đội! có đánh phục kích, chống càn, tập kích đồn và một trận đánh binh vận. Từ chiến khu rừng núi chiều tối “bôn tập” đánh địch ở đồng bằng, địch hậu, sáng sớm lại lui quân về chiến khu.
Một năm trước (1947) làm đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, cơ động trong tất cả các huyện Hà Tĩnh (là một vùng tự do chưa có địch) chủ yếu là luyện quân và làm công tác dân vận. Bộ đội sống trong nhà dân, trong lòng dân, tình quân dân thắm thiết, trong những đêm tâm tình ngồi quanh rổ khoai lang nóng hổi, đọi cà muối và bát nước chè xanh.
Hơn một năm (vào năm 1948) lăn lộn chiến đấu trong tỉnh Quảng Bình, địch tạm chiếm hầu hết đồng bằng, quân dân chính Đảng của ta ở chiến khu vùng núi rừng. Tiểu đoàn chiến đấu trong điều kiện xa dân, thiếu thốn vật chất, chủ yếu dựa vào khoai sắn, mì, tăng gia sản xuất tại chỗ. Thỉnh thoảng có cán bộ hay chị em phụ nữ lên họp, đèo cho bao gạo, túi mắm cá khô. Những tối về địch hậu hoạt động, chị em chèo thuyền từng tổ, từng tiểu đội, bí mật luồn về nông thôn ở địch hậu, trong không khí đầm ấm của các mẹ chiến sĩ, chị em Lệ Thủy (nơi gạo trắng nước trong) nhiều cô gái xinh đẹp trong bộ áo dài quần đen, tóc búi sau gáy, dúi cho bộ đội gói kẹo mè xửng, hộp kẹo bạc hà (Pastille Valda), bao thuốc lá Basto hay Cotab, với bữa cơm ngon, canh ngọt, cá tươi gạo trắng “thật tươi vô cùng!”. Những giọt nước mắt quyến luyến không rời tay nhau khi bước lên thuyền để trở về chiến khu.
Hình ảnh cô gái Lệ Thủy từ đồng bằng gùi gạo lên chiến khu Rợn, qua khe suôi Bang bị pháo binh địch bắn tới, chết ngã giữa dòng suối, bao gạo chìm, túi ny lông bọc cá khô, gói kẹo trôi theo dòng nước cùng với màu đỏ của máu, thật cảm động và thương tâm biết chừng nào! Cho nên khi tiểu đoàn từ giã chiến trường Quảng Bình, hành quân ra đất Thanh Hóa, một buổi chiều trên đê sông Mã nhớ lại câu thơ:
“Đất “Thanh” trông cảnh yên bình
Không quên “Lệ Thủy” đang uỳnh uỳnh đạn bom.
Lội suối “Bang” buổi chiều hôm
Mảnh bom cắt đứt “mối tình bạn ta”.
Người bạn gái xinh đẹp đầu tiên quê Lệ Thủy, đã không bao giờ còn gặp mặt lại nữa.
Tiểu đoàn được lệnh hành quân trở về trung đoàn 103 Hà Tĩnh, rồi được điều động ra Thanh Hóa cùng một tiểu đoàn “của đại hội tập” Quân khu 4 (tiểu đoàn 353) và tiểu đoàn 375 (Quảng Bình) thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu 4 (đặt tên là trung đoàn Quang Trung, do đồng chí Tùng Lâm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Kiện làm Chính ủy). Tôi được đề bạt làm tiểu đoàn trưởng 400, đồng chí Trần Thanh Từ làm chính trị viên tiểu đoàn.
Thế là qua 5 năm đầu trong quân ngũ, được sự bồi dưỡng của tập thể, rèn luyện trong thực tế, từ chiến sĩ tiểu đội tự vệ, chuyển thành cứu quốc quân, rồi chiến sĩ Vệ quốc quân, học viên trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, ra đơn vị làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, trưởng thành trong chiến đấu lên tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng của một đơn vị chủ lực đầu tiên của Liên khu 4. Từ một thanh niên yêu nước được Đảng (Đảng Cộng sản Đông Dương) giáo dục trở thành một đảng viên (10/02/1947), rồi được bồi dưỡng, bầu làm Bí thư chi bộ, Bí thư Tiểu đoàn ủy và Đảng ủy viên Trung đoàn 9. |
|
|