DƯƠNG MINH CHÂU (1912 – 1947) – NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG TÂY NINH
Dương Minh Châu sinh năm 1912 tại làng Ninh Thạnh, tổng Hòa Ninh, huyện Châu Thành, nay thuộc phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ông là một trí thức yêu nước, nhà lãnh đạo cách mạng tiêu biểu của Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1930, ông lên Sài Gòn học tập và hoàn thành chương trình tú tài. Với tinh thần ham học hỏi và ý chí vươn lên, năm 1938 ông tốt nghiệp Cử nhân Luật, đồng thời là thủ khoa Trường Cao đẳng Luật Hà Nội. Sau khi ra trường, ông sang Campuchia làm Tham tá luật sư tại Tòa án Nam Vang (Phnôm Pênh).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Dương Minh Châu tích cực tham gia sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Năm 1946, ông tham gia kháng chiến Nam Bộ, được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.
Trong giai đoạn này, do có những khác biệt về quan điểm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giữa Việt Minh và đạo Cao Đài đã phát sinh nhiều bất đồng. Dương Minh Châu được giao trọng trách đại diện Việt Minh đến thương thuyết với ông Phạm Công Tắc, Giáo chủ đạo Cao Đài lúc bấy giờ, nhằm tìm kiếm sự đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc.
Ngày 7 tháng 2 năm 1947, trên đường hoạt động cách mạng tại ấp Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, ông đã bị quân Pháp phục kích và anh dũng hy sinh khi mới 35 tuổi.
Theo một số tài liệu lưu trữ của Ban Đạo sử Tòa Thánh Tây Ninh, trước ngày hy sinh, Dương Minh Châu đã được báo tin về một cuộc càn quét của quân Pháp. Ông cho rút các trạm gác bên ngoài và trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị trong căn cứ. Tối hôm đó, vợ và con nhỏ của ông từ Tây Ninh vào thăm. Do trời đã khuya, gia đình ông ở lại căn cứ qua đêm. Không ngờ quân Pháp bất ngờ tiến vào khu vực. Trong lúc tìm nơi ẩn náu cùng con nhỏ, tiếng khóc của đứa bé đã làm lộ vị trí. Quân Pháp phát hiện, bắt giữ và sát hại ông ngay tại chỗ. Sự hy sinh của Dương Minh Châu đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào và đồng đội.
Để ghi nhớ công lao của ông, năm 1949 căn cứ Trà Vọng được đổi tên thành căn cứ Dương Minh Châu. Đến tháng 5 năm 1951, huyện căn cứ Dương Minh Châu được thành lập. Ngày nay, huyện Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh vẫn mang tên ông như một biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần cách mạng kiên cường.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 25 tháng 4 năm 1949, ông được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Năm 1998, ông tiếp tục được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Tên tuổi Dương Minh Châu còn được đặt cho nhiều tuyến đường tại các thành phố như Tây Ninh, Rạch Giá, Pleiku và nhiều địa phương khác trên cả nước. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần học tập, ý chí cống hiến và sự hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc.



