Người có công giúp đỡ cách mạng

DƯƠNG QUANG ĐÔNG - ĐH YK10B (1)

Dương Quang Đông – Người chiến sĩ kiên trung giữa thời lửa

Đà Nẵng28/04/2026Chi Đoàn ĐH YK10B (Trường ĐH Kỹ Thuật Y Dược Đà Nẵng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong xuyên suốt dòng lịch sử kháng chiến hào hùng của dân tộc, có không ít những cái tên đã đi vào lịch sử. Những con người mà khi ta nhớ đến không chỉ là nhớ đến một cái tên, mà là nhớ đến cả một câu chuyện, một hành trình gian khổ mà họ đã trải qua để gìn giữ nền độc lập cho thế hệ mai sau. Những con người mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, một ý chí bất diệt và sự trung thành với đất nước, với nhân dân và độc lập dân tộc. Họ đã không tiếc thanh xuân, tuổi trẻ và thậm chí máu xương mà hoà mình vào dòng chảy kháng chiến giành lại độc lập cho dân tộc. Và trong những con người vĩ đại ấy không thể không nhắc đến ông Dương Quang Đông – người chỉ huy tuyến đường xuyên tây và đường HCM trên biển, trực tiếp chỉ đạo và mở đường tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc và chi viện cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Dương Quang Đông (2/5/1902) xuất thân từ một gia đình trung nông tại ấp Mỹ Cẩm, xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Ông còn có tên là Dung Văn Phúc nên người đương thời còn gọi ông là Năm Phúc hay Năm Đông. Cha ông là Dương Quang Bắc, là 1 trong những nghĩa binh oai dũng của cuộc khởi nghĩa Trần Văn Đề chống lại thực dân Pháp ở miền Tây. Năm 1916, là một đứa trẻ ưu tú, ông đã vượt qua cấp tiểu học với thứ hạng cao và học lên bậc thành chung tại Trường Huỳnh Khương Ninh thuộc khu vực Đa Kao, Sài Gòn. Vì vốn bản tính không ưa người Pháp và cũng không có ý định làm tay sai cho bọn thực dân, nên ông không gò ép mình theo sách vở để nhồi nhét kiến thức của Pháp, cái mà ông theo đuổi hằng ngày đó là tìm cách đánh đuổi thực dân Pháp. Là tác giả của hàng loạt vụ hạ bệ những tên tây xấc xược, nên khi sự việc bại lộ, Dương Quang Đông bị đuổi học với tội danh du côn, có tư tưởng nổi loạn chống đối lại nhà nước đương cục. Dù mang tiếng xấu cho gia đình vì bị đuổi học, nhưng cha ông không hề la rầy mà còn ủng hộ ông hết mình. Biết Dương Quang Đông là người không chịu sự gò bó, nên ông Bắc đã gửi con cho một người bạn theo học nghề lái xe để đi đây đó học hỏi thêm nhiều điều trong cuộc sống.

Dương Quang Đông vẫn cứ tiếp tục trải nghiệm cuộc sống và kiến thức thực tế từ xã hội cho đến năm 1919, một cơ duyên đã thay đổi cuộc đời Dương Quang Đông. Ông may mắn gặp gỡ và kết thân với một người thanh niên có tên là Tôn Đức Thắng – thần tượng của giới thanh niên yêu nước lúc bấy giờ – Nhà diễn giả trình bày tình hình thế giới và trong nước cũng như các bài học chính trị. Do thông minh, hoạt bát và tích cực nhất nên Dương Quang Đông đã được Tôn Đức Thắng tin tưởng giao nhiệm vụ Thư ký và Trưởng ban Giao liên của tổ chức. Lúc này Dương Quang Đông mới 18 tuổi và đó cũng chính là bối cảnh ra đời Công hội Đỏ, tổ chức bí mật chính thức được thành lập ngày 25/2/1920 tại đình Bình Đông, nay thuộc quận 8, TP Hồ Chí Minh. Để phát triển nhanh thế lực cũng như để liên kết những người đồng tâm, năm 1921 ông được Tôn Đức Thắng cử về quê hương Trà Vinh vận động, xây dựng tổ chức Công hội Đỏ. Một thời gian sau Dương Quang Đông đã thành lập được hai tổ chức Công Nông hội Đỏ ở quận Cầu Ngang và tỉnh lỵ Trà Vinh, rồi dần dần lan tới các vùng lân cận như Mỏ Cày, Càng Long, Long Hồ. Đến năm 1923, ông Tôn Đức Thắng đã giới thiệu Dương Quang Đông vào làm việc trong hãng Ba Son ở Sài Gòn. Nhiệm vụ của Dương Quang Đông là phối hợp những đồng chí khác phụ trách phát triển tổ chức bí mật Công hội Đỏ tại đây. Trong những năm 1920-1925, Công hội bí mật đã có đến 300 hội viên; ở khắp địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn đều có cơ sở của Công hội. Ngày 18/2/1927, tại vườn Ông Thượng ( nay là công viên Tao Đàn, quận 1, TP HCM), tổ chức Công hội đỏ chuyển thành Kỳ bộ thanh niên cách mạng đồng chí hội do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư (Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng) và cùng với sự kiện chính trị quan trọng này, Dương Quang Đông cũng đã chính thức trở thành thành viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội.

Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Dương Quang Đông quay về quê hương Trà Vinh để thành lập các chi bộ Cộng sản ở Cầu Ngang, tỉnh lỵ Trà Vinh; đồng thời là Bí thư Quận ủy Cầu Ngang. Ngày 20/2/1930 đồng chí Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu về Nam Kỳ thống nhất Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng , lập ra Xứ ủy, theo sự giới thiệu của đồng chí Tôn Đức Thắng, Dương Quang Đông được đề bạt tham gia Xứ ủy Nam Kỳ.

Giữa năm 1931, trong sự kiện Lý Tự Trọng bắn chết tên Chánh mật thám Le Grand tại sân vận động Mayer, đồng chí Dương Quang Đông bị bắt đưa về bót Catinat. Sau màn tra tấn dã man, chúng đưa ông cùng 50 người ra tòa án Trà Vinh xét xử, Dương Quang Đông bị tuyên án 3 năm tù. Đây là lần đầu tiên ông nếm trải cảnh ngục tù của bọn thực dân, thử lửa đầu tiên cho một loạt những lần vào tù ra khám trong cuộc đời hoạt động Cách Mạng của ông. Năm 1934, Dương Quang Đông được trả tự do, Trong giai đoạn 1935–1939, ông nhiều lần bị bắt giam và đến năm 1940 mới được trả tự do.

Từ năm 1936, khi cánh tả Pháp thắng lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội, Đảng ta chủ trương họat động công khai, đẩy mạnh phong trào Dân chủ, thành lập các Ủy ban Hành động khắp các địa phương Nam Bộ. Đồng chí Dương Quang Đông được chỉ định tham gia Ủy ban Hành động Nam bộ, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Hành động Trà Vinh. Phong trào dân chủ phát triển mạnh mẽ khắp các tầng lớp quần chúng. Tháng 9/1939, thế chiến thứ hai nổ ra, thực dân pháp đàn áp các phong trào một cách thảm khốc. Đảng ta chuyển sang hoạt động bí mật. Đầu năm 1940, Xứ ủy được củng cố lại do đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư, ông trở về tham gia Xứ ủy Nam kỳ tiếp tục hoạt động với nhiệm vụ Trưởng Ban Giao liên của Xứ ủy. Khi đó, do nhận định thời cơ khởi nghĩa vũ trang đến, Xứ ủy Nam Kỳ đã phát động khởi nghĩa toàn Nam Kỳ và Dương Quang Đông cùng các đồng chí trong Xứ uỷ ngày đêm tích cực chuẩn bị cho cuộc “vùng lên” đó. Song kế hoạch khởi nghĩa đã bị lộ, ngày 20/5/1940, Dương Quang Đông trên đường truyền đạt lệnh khởi nghĩa cho các tỉnh miền Tây trở về Sài Gòn đã bị mật thám bắt và đày lên Tà Lài (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cùng gần như toàn bộ Xứ ủy Nam Kỳ.

Sau khi đón Tết Nguyên Đán đầu tiên ở giữa chốn rừng thiêng nước độc Tà Lài. Đêm 27/3/1941, Dương Quang Đông cùng bảy đồng chí tổ chức vượt ngục Tà Lài. Cuộc vượt ngục thành công, nhưng chỉ có ba đồng chí trong số tám đồng chí về được Sài Gòn hoạt động là Dương Quang Đông, Trương Văn Nhâm và Nguyễn Tấn Đức. Trời tối, họ rời xe, lẩn vào trong Lăng Ông Bà Chiểu, đến khu mộ Lê Văn Duyệt rồi nằm xuống nền gạch phủ đầy cỏ rêu, nằm ngủ một giấc ngon lành sau những ngày vượt ngục mệt mỏi rã rời. Thức dậy sau một đêm ngon giấc, rũ bỏ phần nào những ám ảnh từ rừng sâu Tà Lài, Dương Quang Đông và Nguyễn Tấn Đức ngồi lặng nghe Trương Văn Nhâm báo cáo tình hình. Xứ ủy bị tan rã sau khởi nghĩa cuối năm 1940. Sài Gòn và cả Nam kỳ đang chìm trong khủng bố trắng. Ở đâu chính quyền thực dân cũng dán yết thị kêu gọi dân chúng cảnh giác và truy bắt những thành phần nguy hiểm làm quốc sự, kèm theo tên tuổi và hình ảnh họ được phóng to. Nhằm tạo tiếng vang chứng tỏ tổ chức cộng sản vẫn tồn tại, Dương Quang Đông vét số tiền ít ỏi còn lại đi chợ mua một khúc vải đỏ về gầm cầu may lá cờ Đảng hình búa liềm, dài chừng hai gang tay. Đêm 30 rạng ngày 1-5-1941, Trương Văn Nhâm bí mật mang cờ lên treo ở Viện Pasteur Sài Gòn (Viện Pasteur TP.Hồ Chí Minh ngày nay). Được khích lệ từ việc treo cờ, ba nhà cách mạng quyết tâm phục hồi cơ sở Đảng. Họ thành lập Ban Vận động Cách mạng Nam Kỳ nhằm tìm kiếm cơ sở, liên lạc với các đồng chí cũ, khôi phục hoạt động của Xứ ủy và liên lạc với Trung ương Đảng để nhận sự chỉ đạo. Tuy nhiên, không lâu sau đó, hai đồng chí Trương Văn Nhâm và Nguyễn Tấn Đức bị thực dân Pháp bắt lại, đày ra nhà tù Côn Đảo. Ban Vận động chỉ còn lại duy nhất mình Dương Quang Đông. Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của một người tù vượt ngục bị truy nã khắp nơi, lại không nhận được sự chỉ đạo của Trung ương, ông vẫn lặn lội khắp Sài Gòn, Gia Định, Chợ lớn rồi đến các tỉnh miền Tây và miền Đông Nam Bộ để móc nối đồng chí cũ, khôi phục các tổ chức Đảng. Trong thời gian này, Tỉnh ủy Trà Vinh cũng được khôi phục, do chính đồng chí Dương Quang Đông trực tiếp làm Bí thư.

Vào ngày 13/10/1943, Dương Quang Đông đã triệu tập cuộc họp Xứ ủy Nam Kỳ ở Chợ Gạo, đề ra nhiệm vụ hành động cách mạng cấp thiết và thống nhất công tác lãnh đạo. Hội nghị bầu ra 12 Xứ ủy viên và Đồng chí Dương Quang Đông được hội nghị bầu làm Bí thư Xứ ủy nhưng ông nói mình chỉ nhận tạm chức vụ này, trong khi chờ đợi bắt liên lạc với đồng chí Trần Văn Giàu một người mà theo ông mới đủ khả năng và xứng đáng lãnh đạo toàn Xứ ủy xứ ủy viên. Tuy vậy, trên thực tế, đồng chí Dương Quang Đông đã đảm nhiệm cương vị Bí thư Xứ ủy gần một năm rưỡi đến ngày 09/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Xứ ủy mới liên hệ được với đồng chí Giàu. Sau khi đồng chí Trần Văn Giàu nhận chức vụ Bí thư thì Dương Quang Đông là Thường vụ Xứ ủy kiêm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Ngày 24/8/1945, Bí thư Trần Văn Giàu tổ chức Hội nghị Xứ ủy Nam kỳ tại Chợ Đệm ở Chợ Lớn, công bố lệnh Tổng khởi nghĩa, Dương Quang Đông lên xe đạp thần tốc về Trà Vinh cùng Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà giành lấy chính quyền. Trên cương vị là Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa, ông có nhiều đóng góp quan trọng cho thắng lợi trọn vẹn mà không đổ máu của cuộc Tổng nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Trà Vinh.

Khi quân Pháp núp dưới danh nghĩa quân Đồng minh Anh - Ấn để tái xâm lược nước ta, Dương Quang Đông lên Sài Gòn, được cử chỉ huy lực lượng bảo vệ trụ sở Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đóng ở Dinh Xã Tây, tức trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Khi quân Pháp tấn công, ông đã nổ phát súng đầu tiên ra hiệu cho quân dân tự vệ. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt tại đây suốt đêm 22 đến rạng sáng 23/9/1945. Sau đó, ông lui quân về miền Tây, tiến dần xuống vùng U Minh.

Cuối năm 1945, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân Nam Bộ. Trong giai đoạn đầu, lực lượng cách mạng gặp muôn vàn khó khăn nên Xứ ủy chủ trương tự lực kháng chiến, đồng thời tổ chức một đoàn sang Thái Lan tìm mua vũ khí.

Dưới vỏ bọc thương nhân, bằng cái tên Thái là Nai Chran, Dương Quang Đông cùng đoàn mua hàng trăm tấn vũ khí, quân trang, quân dụng ở Thái Lan và Malaysia chuyển về tiếp viện Nam Bộ. Ngoài tuyến đường biển, ông còn phối hợp vận chuyển vũ khí bằng đường bộ qua Campuchia, sử dụng voi làm phương tiện chuyên chở và liên kết với lực lượng Khmer để bảo vệ tuyến vận chuyển, đồng thời đánh phá các đồn bốt hẻo lánh của địch. Trong quá trình hoạt động tại Malaysia, ông đã liên hệ với Lai Teck-Tổng bí thư Đảng Cộng sản Malaysia để tranh thủ sự hỗ trợ về vũ khí. Dương Quang Đông bất ngờ nhận ra Tổng bí thư Lai Teak chính là Phạm Văn Đắc, một đồng chí thân thiết của mình ở Việt Nam, được sự ủng hộ của Chính phủ Thái Lan, Dương Quang Đông cho thành lập hai trạm thu mua vũ khí là May Luột và Kô Kông.

Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Dương Quang Đông là một bản anh hùng ca rực rỡ về tinh thần quả cảm, mưu trí và lòng tận tụy vô song đối với Tổ quốc, kéo dài suốt hơn một thế kỷ từ khi dấn thân vào con đường cách mạng cho đến khi về với cõi vĩnh hằng. Mở đầu bằng dấu mốc lịch sử ngày 24/8/1945, với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa, ông đã trực tiếp lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Trà Vinh vùng lên giành chính quyền thắng lợi, mở ra kỷ nguyên độc lập cho tỉnh nhà. Để rồi ngay sau đó, năm 1946, ông được nhân dân tin yêu bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I. Khi thực dân Pháp bội ước nổ súng tái chiếm Sài Gòn vào ngày 23/9/1945, trên cương vị Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí Dương Quang Đông đã trực tiếp cầm súng chỉ huy chiến đấu tại Dinh Xã Tây trước khi nhận lãnh sứ mệnh lịch sử "xuyên Tây" sang Thái Lan. Với 25 ký vàng và trọng trách tìm nguồn vũ khí, ông cùng 14 đồng chí đã băng rừng lội suối, xây dựng hệ thống thu mua chiến lược tại các trạm May Luột, Kô Kông và căn cứ hậu cần tại chùa Thi Oa Thi (Bangkok), từ đó vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, khí tài về chi viện kịp thời cho đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, ông kiên cường ở lại miền Nam hoạt động bí mật, phụ trách công tác binh vận và đặc biệt là kỳ tích mở lại tuyến giao liên huyết mạch Nam – Bắc mang phiên hiệu Đoàn A53 trong những năm 1957–1959, bảo đảm thông tin liên lạc xuyên suốt giữa Trung ương và Xứ ủy. Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tầm vóc của ông một lần nữa được khẳng định khi ông trực tiếp khảo sát bến bãi và trở thành Phó chỉ huy kiêm Chính ủy Đoàn tàu Không số, góp phần quan trọng hình thành nên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại, đưa những chuyến tàu chở đầy vũ khí cập bến Lộc An để làm nên những chiến thắng lẫy lừng như Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, ông về công tác tại Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và dù nghỉ hưu vào năm 1977, tinh thần cống hiến của ông vẫn không hề ngơi nghỉ khi ông tiếp tục tham gia Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và dẫn dắt Câu lạc bộ hưu trí. Những năm tháng cuối đời, người chiến sĩ cách mạng từng 37 lần bị bắt bớ tù đày ấy vẫn giữ nguyên đức tính "chí công vô tư" khi quyết định bán căn nhà kỷ niệm để lấy 60 cây vàng ủng hộ đồng bào lũ lụt và các quỹ từ thiện, đồng thời để lại di nguyện cảm động là dùng toàn bộ tiền cúng viếng sau tang lễ để mang lại ánh sáng cho những bệnh nhân nghèo bị mù lòa. Đồng chí Dương Quang Đông qua đời ngày 15/5/2003, hưởng thọ 101 tuổi, để lại một di sản tinh thần bất diệt về một cuộc đời dâng hiến trọn vẹn, một nhân cách cao thượng luôn đặt lợi ích của nhân dân và Đảng lên trên hết, đúng như lời dặn của Bác Hồ về một người "đầy tớ" trung thành của nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn