“Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.”-thcs ds
Thế hệ trẻ hôm nay cần viết tiếp câu chuyện “Thời hoa lửa” vì đó là cách nối dài truyền thống yêu nước và tinh thần hy sinh của cha anh trong những năm tháng chiến tranh. Nếu ngày trước tuổi trẻ cầm súng bảo vệ Tổ quốc thì hôm nay, trong hòa bình, thanh niên cần tiên phong trong học tập, rèn luyện đạo đức, sáng tạo và cống hiến để xây dựng đất nước giàu mạnh. Viết tiếp “Thời hoa lửa” không phải bằng khói lửa chiến tranh mà bằng tri thức, trách nhiệm và khát vọng vươn lên, để ngọn lửa nhiệt huyết năm xưa vẫn cháy mãi trong thời đại mới.Thế hệ trẻ trườngTHCS Đồng Sơn xin viết tiếp những câu chuyện thời hoa lửa:
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.”
Những câu thơ của Phạm Tiến Duật đã khắc họa vẻ đẹp hào hùng của con đường ra trận, nơi những người lính trẻ đã để lại dấu chân và máu xương cho Tổ quốc. Trong dòng người ấy, có ông Nguyễn Văn Thông – người con thôn Tân Mỹ, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh – đã dành trọn tuổi xuân cho kháng chiến chống Mỹ.
Ông Nguyễn Văn Thông sinh năm 1946. Năm 1964, khi vừa tròn 17 tuổi, ông đã can đảm xung phong nhập ngũ, trở thành lính dù trong thời kỳ kháng chiến ác liệt. Những ngày đầu, ông được đào tạo ba năm tại trường Lục quân, rèn luyện ý chí và bản lĩnh của một người lính trẻ. Ở Việt Nam, ông chỉ là một chiến sĩ, chưa giữ chức vụ cao, nhưng tinh thần hăng hái và lòng yêu nước đã khiến ông nổi bật giữa đồng đội.
Trong cuộc chiến 72 ngày đêm ở thành cổ Quảng Trị, ông được tham gia trực tiếp chiến đấu. Ông nhớ lại hôm ấy trời mưa bão liên miên, gió quất ràn rạt, nước mưa hòa cùng bùn đất và máu. Thành cổ như một biển lửa, tiếng pháo, tiếng súng, tiếng hò reo xung phong dội vang khắp nơi. Trong khoảnh khắc chạm trán quân giặc, một viên đạn găm thẳng vào vai phải, máu tuôn xối xả, thấm đỏ cả tấm áo lính. Cơn đau nhói buốt khiến ông choáng váng, nhưng ông không cho phép mình gục ngã. Ông kể rằng lúc ấy ông chẳng nghĩ gì ngoài việc phải lao thẳng vào biển người, phải giữ vững trận địa để đồng đội có thể tiến lên.
Ông không sợ, bởi bên cạnh ông là những người đồng chí kiên cường. Họ dìu nhau, cõng nhau, cùng nhau chống chọi trong mưa bom bão đạn. Hình ảnh những người lính trẻ, máu hòa cùng nước mưa, vẫn nắm chặt tay nhau, vẫn hét vang khẩu hiệu xung phong, đã trở thành ký ức không bao giờ phai trong ông. Sau trận chiến, ông được đưa đi mổ, nhưng do y thuật thời bấy giờ còn hạn chế, viên đạn vẫn nằm trong vai phải, trở thành dấu tích vĩnh viễn của chiến tranh – một vết thương nhắc nhớ cả đời về sự khốc liệt và tinh thần bất khuất.
Sau những năm tháng chiến đấu ở quê hương, đến năm 1969, ông được chuyển công tác sang Lào, thuộc đơn vị 305. Tại đây, ông trưởng thành nhanh chóng, được bổ nhiệm làm đội trưởng rồi đại đội trưởng. Ông kể rằng ở Lào, ông cùng ăn, cùng ngủ với bộ đội bạn, lâu ngày sinh tình cảm đồng chí sâu nặng, dù bất đồng ngôn ngữ nhưng vẫn gắn bó như anh em. Ông cũng từng có dịp gặp Bác Hồ khi Bác đến thăm đơn vị, được chào hỏi và nghe lời căn dặn – một ký ức thiêng liêng không thể nào quên. Trong những năm tháng ở Lào, ông còn quen biết nhiều đồng đội từ khắp mọi miền đất nước, nhưng phần lớn họ đã hy sinh. Ông vẫn nhớ mãi người đồng đội tên Thưởng, được bổ sung vào đơn vị,hay trò chuyện và cùng chung lí tưởng cách mạng vì thế ông coi ông thưởng là tri kỷ và có ấn tượng sâu sắc.
Với gần 40 năm đóng góp cho đất nước, ông về hưu khi 60 tuổi, được bổ nhiệm làm trung tá. Ông từng được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: bằng khen có công lớn trong kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, hạng ba Quân đội nhân dân, huy chương Chiến công hạng nhì. Đặc biệt, vào tháng 10 năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Bắc Giang, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã đến thăm và tặng quà gia đình ông, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những hy sinh, đóng góp của ông và thế hệ cha anh.
Hiện nay, ông vẫn sống cùng gia đình, dù sức khỏe đã già yếu, bị tai biến không thể nói rõ, nhưng ông vẫn cố gắng kể lại những câu chuyện năm xưa cho mọi người nghe. Cuộc đời ông Nguyễn Văn Thông là minh chứng sống động cho tinh thần anh dũng, kiên cường của người lính Việt Nam. Vết thương ở vai phải trong 72 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị không chỉ là dấu tích của chiến tranh, mà còn là biểu tượng của sự kiên cường, của lòng trung thành với Tổ quốc. Câu chuyện của ông nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng: hòa bình không tự nhiên mà có, nó được đánh đổi bằng máu và nước mắt của cha anh. Vì vậy, mỗi chúng ta cần sống xứng đáng, biết trân trọng và tiếp nối ngọn lửa bất diệt ấy để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, yên bình.



