ĐƯỜNG SÔNG
Dòng sông Vệ bắt nước từ núi rừng Ba Tơ cắt huyện Nghĩa Hành chúng tôi ra làm đôi. Tiếng là vậy, nhưng phần mạn nam là một rẻo đất mà người ta thường nghĩ có chiều dài. Từ phía Đông chạy lên tận Khánh Giang Trường Lệ - nơi cùng với hai huyện Mộ Đức, Đức Phổ gối đầu lên chiến khu Núi Lớn - phải đến trên mười lăm cây số. Cái rẻo đất ấy chính là tổng Cận của chúng tôi.
Địch đóng chênh huyện ly mạn tây, nằm sát bờ bắc con sông là để kiểm soát cho được cái rẻo đất phất phơ như tàu chuối ở bên kia bờ nam đó. Cái thế "cách núi ngăn sông" đã khiến bọn cầm quyền lo lắng ngày đêm. Còn chúng tôi, trong những ngày đầu đánh giặc gian nan, mỗi lần nhớ đến mảnh đất thân yêu ấy của mình, chúng tôi đều thầm nhủ: hãy cảm ơn con sông Vệ!
Hồi đó, chúng tôi có nhiệm vụ cung cấp người, vũ khí và lương thực cho chiến khu Ba Tơ. Người thì có thể đi đường bộ - con đường lượn theo dòng sông, ngoằn ngoèo như sợi dây leo trong rừng.
Một lần, tôi cùng anh Nho trên đường lên chiến khu công tác thì gặp địch truy lùng rất dữ. Hai anh em chúng tôi phải trốn chui trốn nhủi trong rừng hàng tuần lễ. Ngày ngày đồng bảo Thượng đã phải đem cho từng khúc củ mi lùi để ăn qua cơn đói. Tối đến, hai anh em nằm bên bờ suối, ôm nhau chịu dựng cái lạnh lẽo, rét công của núi rừng. Chính trong những đêm ấy, chúng tôi trăn trọc nghĩ đến anh em mình ở Ba Tơ phải lên xuống, xuống lên gian khổ bao lần.
Người thì lên xuống bằng con đường bộ hiểm nghèo đó được. Nhưng chuyên chở lương thực, vũ khí thì bằng cách nào đây? Vẫn con đường ấy hay sử dụng đường sông? Đường sông, con đường vận chuyển khá thuận lợi đấy, nhưng liệu có thể vượt qua đoạn huyện lỵ Nghĩa Hành như cái gai sờ sờ trước mắt đó không? Đó là nỗi băn khoăn của chúng tôi bấy giờ. Song, dù nói gì thì nói, tình thế đã buộc chúng tôi phải chở theo đường sông thôi. Lúa gạo, quần áo, mùng mền quyên được của đồng bào đều tập trung vào kho bí mật ở Đồng Huân, chân đèo... Rồi đêm đến, lần lượt đưa xuống thuyền, chở lên khu, việc chuyển chở lương thực, phần lớn đã nhờ vào lực lượng nhân dân, vì họ có đủ lý lẽ chống chế với địch mỗi khi bị lộ.
Gay go nhất vẫn là việc chở sắt và vũ khí lên chiến khu, bởi vì công việc này thật nguy hiểm. Sau nhiều lần bàn bạc, chúng tôi quyết định phải đưa một số thợ rèn vào tổ chức, rồi giao cho họ bí mật rèn vũ khí tại địa phương. Còn sắt thép thì vận động người xuống cầu sông Vệ lấy mang về. Bọn Nhật ở đây canh giữ cầu rất kỹ. Anh em phải lợi dụng đêm tối mà đánh cắp, hoặc lén lặn xuống sông kéo những thanh sắt vụn ra xa chân cầu, rồi chờ lúc thuận lợi mới vớt lên đem về. Chúng tôi lại lập ở các thôn xã những đội tự vệ chuyên lo canh gác, bảo vệ công tác chở súng đạn lên khu.
Vũ khí đã rèn xong. Vấn đề còn lại là làm sao vượt qua được đoạn huyện lỵ. Anh em trong đội chuyên chở nghĩ ra một kế: bó vũ khí lại thành bó, cột dọc hai bên thuyền cho nó ngập dưới mặt nước, rồi chở đi. Khi có địch kiểm soát thì cắt đứt dây, những bó vũ khí âm thầm lặn xuống đáy sông nằm nghỉ, sau đó sẽ tìm vớt lên. Kế hoạch là vậy và những chuyến đi như thế đều trót lọt. Bọn địch có mắt như mù.
Ông Cửu, một đồng chí của chúng tôi bấy giờ kể lại rằng chỉ có một lần (lúc qua đoạn huyện lỵ), bị địch chặn hỏi mà thôi. Hôm ấy, ông chở vũ khí lên đến bến đò huyện thì đêm đã quá khuya. Trời tối đen như mực, chỉ thấy loáng thoáng mặt sông. Bọn địch trên bờ nghe động, đánh tiếng hỏi:
- Ai chở gì lên đó?
- Tôi đi đánh cá đây! ông cụ đáp, rồi lặng lẽ chèo thuyền đi qua.
Đường sông có cái nguy hiểm mà cũng kỳ vậy đó. Nhưng đến lần mà tôi không sao quên được ấy, cái lần thuyền chở sắt của chúng tôi mới từ cầu sông Vệ lên thì địch đuổi theo. Anh em phải đem hàng giấu cả vào buồng tằm ở Mỹ Hưng. Nhưng để đó lâu không tiện, bởi vì dọc bờ sông không xóm làng nhà cửa, địch dễ phát hiện ra. Đêm sau đó chúng tôi đề nghị anh em phải tìm người chở giúp, chuyển gấp lên khu. Tốt nhất vẫn là nhờ phụ nữ. Dẫu sao phụ nữ cũng dễ lọt qua bọn địch hơn. Anh em hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ nội trong đêm. Nhưng một lát sau lại có người lên báo:
- Đã nhờ được một thím ở đập Bến Thóc, nhưng cô gái của thím ấy khăng khăng không chịu. Cô thì rất đẹp vừa mới lấy chồng mà cũng rất khó tính, năn nỉ mãi vẫn chưa xong…
Nghe nói, tôi vội vã xuống ngay Bến Thóc. Gió từ mặt sông như hơi thở nhè nhẹ thoảng lên bờ, cái thoảng mát ngọt ngào... Vượt qua bãi dâu, tôi đã đến buồng tằm. Nhờ ánh trăng non dịu dàng lấp ló sau đám mây mỏng trên nền trời kia, tôi đã có thể nhìn thấy được mọi người. Tôi kinh ngạc: trước mặt mình là một thiếu nữ tuyệt đẹp. Cố moi lại cả trí nhớ, nhưng quả rằng mình chưa từng biết cô gái ấy bao giờ. Tôi ngây ngất trước vẻ đẹp lạ lùng và bất chợt ấy. Trong cô có một cái gì ẩn hiện sâu kín như ánh trăng non kia lọt qua những kẻ lá dâu mượt mà soi rọi xuống đất phù sa tươi tốt. Với cái tuổi hai mươi đi đây đi đó đã nhiều, lòng tôi bổng thấy dấy lên niềm vui khó tả. Thật khó mà nói hết được cái vẻ dịu dàng thanh mảnh nhưng khỏe khoắn kia của cô gái. Tôi tự hỏi: mình ở đây đã lâu mà sao chẳng biết cô ta? Mà làm sao biết được chớ. Các cô gái quê có đi ăn diện phố phường như các cô gái thị thành đâu. Tôi chợt bàng hoàng, suy nghĩ: Con người ở quê mình tuy có gian khổ, khô nhọc nhưng vấn tốt tươi như cây mía, cây dâu gặp đất Phù sa. Bất chợt, tôi cảm thấy yêu đời hơn, yêu quê hương làng xóm mình hơn.
Cô gái dường như cũng ngạc nhiên lắm, nhìn tôi hơi ngượng ngùng. Tôi đang tìm lời lẽ thuyết phục việc chở vũ khí, thì cô ta đã đánh tiếng hỏi:
- Anh cũng hoạt động à?
- Không được sao? Tôi cười, hỏi lại
- Nhưng ... anh còn trẻ quá... Cô gái ngập ngừng nói qua bóng trăng như có vẽ đã quen biết nhau.
Tôi nghiêm mặt một lát rồi cười đáp:
- Trẻ mới làm cách mạng chớ!
Đương chực trình bày ý định của mình, thì cô ta đã giục mẹ khiêng sắt xuống thuyền. Tôi mỉm cười thích thú, cùng ghé tay vào.
Cái gì đã làm cho cô gái thay đổi thái độ đột ngột như vậy? Cảm kích khi nhận ra những ý đồ lớn của cách mạng hay mến phục nhiệt huyết tuổi trẻ của tôi?
Thật khó mà biết được.
Tôi đứng lặng ngắm dòng sông lấp loáng dưới ánh trăng non. Chiếc thuyền nhỏ kéo hai vệt sáng gờn gợn giữa dòng sông phẳng lặng như tờ. Trên thuyền, thấp thoáng dáng hai người phụ nữ đang âm thầm chèo ngược nước. Tôi cứ đứng nhìn mãi, nhìn mãi cho đến lúc chiếc thuyền kia khuất bóng. Bên kia sông, dưới chân ngọn Đình Cương sừng sững, ánh đèn dầu nhà ai lập lòe trong đêm...
Tôi đã có vợ. Cô ấy cũng vừa lấy chồng. Chỉ mong chuyến chở sắt này lên được bình an.



