DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ: TRANG VIẾT CÒN Ở LẠI DUY XUYÊN
Tháng 4 năm 1968, nhà báo Dương Thị Xuân Quý rời miền Bắc để vào chiến trường Khu 5, để lại con gái Bùi Dương Hương Ly mới hơn một tuổi trong sự chăm sóc của gia đình. Chưa đầy một năm sau, chị hy sinh ở Duy Xuyên vào đêm 8 tháng 3 năm 1969. Từ những trang bút ký, hồ sơ bảo tàng và ký ức người thân, câu chuyện đặt câu hỏi về giá trị của một trang văn được viết giữa chiến tranh và cái giá người cầm bút phải trả.
Trong không gian trưng bày của Bảo tàng Văn học Việt Nam có những hiện vật, tư liệu liên quan đến nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý. Chúng đưa người xem trở lại một thời kỳ mà giấy viết có thể phải theo người phóng viên băng qua những vùng bị càn quét. Một trang ghi chép không chỉ giúp giữ lại thông tin. Nó còn là dấu vết của người đã có mặt ở nơi nguy hiểm, quan sát và lắng nghe cuộc sống khi chiến tranh làm mọi điều trở nên mong manh.
Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941 tại Hà Nội, quê gốc ở vùng Văn Giang, Hưng Yên. Bà trở thành phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam từ năm 1961. Những năm Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, công việc báo chí của bà đã gắn với các địa bàn tuyến lửa. Đó là quãng thời gian nghề viết đòi hỏi người phóng viên di chuyển, quan sát hiện trường và đưa tới người đọc những điều không thể hiểu đủ qua những bản tin nhận từ xa.
Tháng 12 năm 1966, bà sinh con gái Bùi Dương Hương Ly. Việc chăm con nhỏ gắn liền với công việc của một phụ nữ trong thời chiến. Nhưng đến tháng 4 năm 1968, Dương Thị Xuân Quý quyết định vào chiến trường. Theo Bảo tàng Văn học Việt Nam, bà gửi con cho mẹ chăm sóc rồi lên đường; tháng 7 cùng năm nhận công tác tại tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ thuộc Khu 5. Trong thời gian chưa đầy một năm, cuộc đời người mẹ trẻ đã chuyển từ Hà Nội tới chiến trường Quảng Nam.
Vào thời điểm ấy, Quảng Nam là địa bàn chiến sự ác liệt. Những làng quê không chỉ chịu ảnh hưởng từ các trận đánh mà còn có những cuộc lùng sục, dồn dân và càn quét. Người phóng viên ở chiến trường phải sống cùng những điều kiện thiếu thốn mà người dân và chiến sĩ đang trải qua. Không thể chỉ tới nơi, ghi nhanh vài câu rồi trở về một căn phòng an toàn. Để có tư liệu, họ cần ở lại, đi cùng cán bộ, tìm hiểu cuộc sống và chịu những rủi ro thường trực.
Dương Thị Xuân Quý mang theo năng lực quan sát của một nhà báo và sự nhạy cảm của một người viết văn. Những tác phẩm như Chỗ đứng, Gương mặt thách thức hay Hoa rừng cho thấy mối quan tâm của bà đối với con người trong hoàn cảnh thử thách. Không phải mọi trang văn đều có thể được gắn ngay với một địa điểm hay một ngày tháng cụ thể. Nhưng bút ký, truyện ngắn của bà lưu giữ những trải nghiệm mà tác giả trực tiếp tiếp xúc, góp phần tạo nên tiếng nói của văn nghệ chiến trường Khu 5.
Điều làm câu chuyện của bà đặc biệt là hai trách nhiệm diễn ra cùng lúc: trách nhiệm của người cầm bút trước chiến tranh và tình cảm của người mẹ đối với đứa con còn rất nhỏ. Không có chứng cứ để kể chính xác bà đã nghĩ gì trong từng đêm ở chiến trường, và cũng không nên đặt vào miệng bà những lời dặn con chưa được kiểm chứng. Chỉ riêng việc bà đã gửi con lại gia đình để tiếp tục nghề báo ở nơi chiến sự, theo hồ sơ bảo tàng, đã đủ cho thấy quyết định lớn lao ấy.
Đêm 8 tháng 3 năm 1969, Dương Thị Xuân Quý hy sinh trong một trận càn tại khu vực thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. Nơi bà ngã xuống cách xa thành phố nơi bà sinh ra và xa đứa con không có nhiều cơ hội được sống bên mẹ. Nhiều bài viết sau này trở lại Duy Xuyên, nhắc đến phần mộ và bia tưởng niệm. Nhà văn Bùi Minh Quốc, chồng bà, cũng là người làm văn nghệ, đã giữ ký ức về vợ qua những trang viết.
Ở góc nhìn của người đọc hôm nay, ngày hy sinh của Dương Thị Xuân Quý mang một sự trùng hợp đau xót: đó là ngày 8 tháng 3, ngày thường được dành để nói về phụ nữ. Nhưng câu chuyện của bà không nên bị thu gọn thành hình ảnh một phụ nữ chịu đựng mất mát. Bà là nhà báo có nghề nghiệp và sự lựa chọn. Bà đã chủ động xin đi chiến trường, tiếp tục công việc viết văn và báo chí trong môi trường đầy nguy hiểm.
Năm 2007, bà được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Bảo tàng Văn học Việt Nam tiếp nhận thêm hiện vật và tài liệu của gia đình để phục vụ trưng bày, nghiên cứu. Những việc làm ấy có ý nghĩa bởi văn bản có thể được in lại, còn những mảnh đời phía sau trang viết rất dễ chìm khuất. Một người phóng viên trong chiến tranh cần được nhớ đến bằng tư liệu nghề nghiệp, những tác phẩm đã để lại và cả hoàn cảnh gia đình mà bà phải tạm chia xa.
Giữa những hiện vật trưng bày, người xem có thể tưởng đến việc một trang viết đã được giữ lại trong khi người viết không trở về. Đây không phải câu chuyện cần thêm một cảnh chia tay tưởng tượng. Sự thật đã đủ sâu: một người mẹ trẻ gửi con lại, vượt vào chiến trường và hy sinh sau chưa đầy một năm. Những trang văn còn ở lại Duy Xuyên cùng ký ức về một nhà báo đã chọn hiện diện tại nơi cần tiếng nói của mình.



