Bài viết

Đường Trường Sơn - con đường nối hậu phương và tiền tuyến

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh vào ngày 30/4/1975. Thắng lợi đó là kết quả của việc phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó hậu phương là nhân tố cơ bản. Ngay từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, Đảng ta đã xác định: “việc làm có tầm quan trọng quyết định là phải tích cực chi viện cho miền Nam với mức độ cao nhất để đánh bại địch ở miền Nam”.

Phú Thọ22/11/2025Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ngọc Sơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ngọc Sơn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tuyến đường Trường Sơn cùng với đường Hồ Chí Minh trên biển trở thành hai tuyến đường quan trọng trong việc vận chuyển sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam, góp phần to lớn cho việc đảm bảo hậu cần cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) tháng 11/1959 khẳng định: “Ngoài còn đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ”. Ngay sau khi Hội nghị kết thúc, Bộ Chính trị chủ trương thành lập đơn vị vận tải quân sự dọc Trường Sơn gọi tắt là Đoàn 559.

Sơ đồ tuyến vận tải chiến lược của Sư đoàn 571 chở bộ đội vào giải phóng miền Nam (Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội).

Đường Trường Sơn là con đường chiến lược chạy dọc Trường Sơn để vận chuyển vũ khí, phương tiện và nhu yếu phẩm đảm bảo hậu cần cho các chiến dịch; đưa đón cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu; đưa các thương binh và cán bộ từ Nam ra Bắc để chữa bệnh, họp hoặc học tập. Đây là con đường huyết mạch, được ví như động mạch chủ đưa máu từ con tim hậu phương miền Bắc vào nuôi sống cơ thể tiền tuyến miền Nam. Theo đó, cùng với từng giai đoạn lịch sử tuyến đường Trường Sơn được mở rộng, xây dựng và phát triển, góp phần đắc lực trong việc vận chuyển từ Bắc vào Nam.

Trong những ngày đầu, Đoàn 559 đã dựa vào tuyến đường giao liên cũ trong kháng chiến chống Pháp để mở đường, mở trạm và bước đầu vận chuyển vũ khí, lương thực, hàng hóa góp phần vào việc củng cố lực lượng cách mạng, đặc biệt là xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Nam. Đến tháng 6/1959, Đoàn đã xác định và lập xong tuyến đường và vị trí của 9 trạm gồm 2 trạm ở phía Bắc sông Bến Hải và 7 trạm ở phía Nam. Với phương châm “đi không dấu, ở không lán, nấu không khói, nói không tiếng”, từ tháng 8/1959 những cán bộ chiến sĩ với những chuyến hàng đầu tiên của miền Bắc đã vào tới miền Nam. Tính đến năm 1960, thông qua tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, trung bình mỗi tháng Đoàn 559 đã vận chuyển đến miền Tây Thừa Thiên Huế khoảng 5 tấn hàng.

Xe đạp thồ của Anh hùng lực lượng vũ trang Đinh Công Trấn đã dùng vận chuyển lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội trong chiến dịch Hồ Chí Minh (Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội).

Giai đoạn 1961 – 1965, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, trọng tâm là thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 - 1965, tăng cường chi viện sức người sức của cho miền Nam. Sau 5 năm thực hiện miền Bắc đã thu được những kết quả bước đầu, tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định “trong 10 năm qua miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc”.

Những thắng lợi trong xây dựng đất nước ở miền Bắc đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để chi viện cho cách mạng miền Nam. Từ năm 1961 đến năm 1965, tuyến đường vận tải chiến lược ngày càng phát triển và vươn dài về phía Nam. Nhiều binh trạm kho hàng mới được xây dựng. Cùng với đường chiến lược ta đã mở nhiều đường nhánh nối các chiến trường. Tuyến đường vận tải xuyên Trường Sơn không còn là “đường mòn Hồ Chí Minh” của những ngày đầu mà đã trở thành còn đường lớn mở rộng thành một hệ thống đường chiến lược chiến dịch, như mạch máu nối liền từ hậu phương miền Bắc tới các chiến trường. Đầu năm 1962, tuyến đường 559 chuyển sang Tây Trường Sơn qua đường 9 xuống Nam Lào, chính nhờ vậy trong năm 1962 kết quả vận chuyển đã tăng gấp 3 lần năm 1961. Số lượng hàng hóa từ năm 1961 đến năm 1963, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 40.000 cán bộ, vận chuyển 165.000 khẩu súng, hàng trăm tấn khí tài, hơn 7.000 tấn lương thực, 34 tấn thuốc men và hơn 2000 tấn vật tư khác. Từ năm 1964 các đơn vị cơ động cấp trung đoàn đã được đưa vào miền Nam chiến đấu. Đây là điều rất quan trọng tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực miền Nam trên các hướng trọng điểm sớm hình thành, tăng thêm sức mạnh chiến đấu, đủ sức đánh bại các chiến thuật mới của địch.

Cùng với việc chi viện sức người, sức của cho miền Nam, miền Bắc đã ra sức thi đua “một người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”, một khí thế thi đua rộng rãi khắp trong cả các ngành, các giới. Do vậy mỗi tấn hàng, mỗi hạt gạo mà người lính mang tới chiến trường không chỉ là vật chất đơn thuần mà còn là nghĩa tình của nhân dân miền Bắc chung sức với nhân dân miền Nam đánh giặc.

Giai đoạn từ năm 1965 - 1975, đây là giai đoạn chiến tranh diễn ra ác liệt trên cả hai miền Nam - Bắc. Miền Bắc phải chống chọi với hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân với sức tàn phá kinh hoàng. Tuy nhiên, nhân dân miền Bắc vẫn “chắc tay súng vững tay cày” đảm bảo “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Nghị quyết 241 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về việc thành lập Hội đồng chi viện miền Nam, ngày 25/3/1975 (Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội).

Theo tinh thần Nghị quyết 241: “Xây dựng, phát triển và hoàn thiện các tuyến giao thông vận tải” nhằm đưa nhanh hơn, nhiều hơn lương thực, thực phẩm, vũ khí và phương tiện chiến tranh vào Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ”, ngày 17/11/1973, Hội đồng Chính phủ đã phê chuẩn thiết kế xây dựng hệ thống đường vận tải chiến lược Đông Trường Sơn và nâng cấp đường Tây Trường Sơn. Nhà nước đã đầu tư lớn về vốn và kỹ thuật cho hai tuyến đường lớn này và coi đó là công trình trọng điểm lớn của nhà nước. Hơn 30.000 cán bộ chiến sĩ, công nhân, thanh niên xung phong được điều động vào Trường Sơn cùng với cán bộ, chiến sỹ Đoàn 559 tham gia nâng cấp và mở tuyến đường. Những khó khăn hiểm trở về địa hình, thời tiết khắc nghiệt, bệnh tật, bom đạn kẻ thù và những khó khăn về kỹ thuật đã không ngăn được bàn tay mở đường ra tiền tuyến với ý chí tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho thắng lợi cuối cùng.

Bằng những cố gắng không ngừng các chiến sĩ Trường Sơn đã mở được 1.200 km đường mới ở Đông Trường Sơn vào đến Lộc Ninh và 1.240 km đường được nâng cấp ở Tây Trường Sơn. Một số hệ thống các đường dọc, đường ngang, đường vòng tránh, đường ống xăng dầu, hệ thống kho dự trữ đã nối liền hậu phương miền Bắc với các chiến trường. Tính chung đến năm 1975, các lực lượng trên đường Trường Sơn đã mở 5.560 km đường mới các loại, nâng độ dài của đường vận tải, đường hành quân dọc Trường Sơn lên 16.790 km. Hệ thống đường ống xăng dầu mới được xây dựng 1.311 km nối liền với hệ thống của cả nước 1.712 km bao gồm 113 trạm bơm, 46 kho dự trữ với hệ thống bể chứa khoảng 327.800m3. Ngày 17/1/1975, xăng dầu vận hành bằng đường ống đã vào tới Bù Gia Mập (Đông Nam Bộ).

Một đoạn đường ống dẫn dầu đến Bù Gia Mập (Đông Nam Bộ) nhằm đảm bảo cung cấp xăng dầu cho xe vận tải trên tuyến đường Trường Sơn (Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội).

Nhờ có hệ thống đường được mở rộng và khả năng cung cấp xăng dầu đầy đủ, nhanh chóng, vì vậy sức cơ động của ta đã nhanh hơn nhiều so với những năm trước. Đoàn 559 có 6.770 ô tô, 200 trạm sữa chữa xe máy, 15.000 nhân viên kỹ thuật và thợ sữa chữa được đưa vào miền Nam. Có đủ phương tiện vận chuyển, khả năng sửa chữa xe máy các loại, pháo, khí tài quân sự bảo đảm cho tác chiến và hành quân liên tục của quân đội. Nhờ đó, tốc độ hành quân, hiệu suất chiến đấu, sức cơ động, khối lượng hỏa lực ta đã phát huy được sức mạnh, đảm bảo yêu cầu tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn của địch.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, nhờ có sự chi viện hùng hậu của miền Bắc cùng với sự hoàn thiện của tuyến đường Trường Sơn đã giúp đưa nhanh, đưa nhiều hơn vũ khí, nhu yếu phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các chiến trường, góp phần to lớn vào Đại thắng mùa Xuân lịch sử cách đây 40 năm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn