Dương Văn Dương - Từ thủ lĩnh Bình Xuyên đến vị tướng của cách mạng
Từ thời sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thường cùng bạn bè lang thang khắp Nam Bộ. Kênh đào Dương Văn Dương ở Đồng Tháp Mười là một trong những điểm đến hấp dẫn. Vào những năm đầu thập niên 1990, hai bên dòng kênh này vẫn còn hoang hóa, dân cư thưa thớt, cây cỏ um tùm. Đi xuồng trên dòng nước trong xanh, nghe những câu chuyện về vị tướng giang hồ hảo hán Dương Văn Dương thật thú vị.
Từ thời sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thường cùng bạn bè lang thang khắp Nam Bộ. Kênh đào Dương Văn Dương ở Đồng Tháp Mười là một trong những điểm đến hấp dẫn. Vào những năm đầu thập niên 1990, hai bên dòng kênh này vẫn còn hoang hóa, dân cư thưa thớt, cây cỏ um tùm. Đi xuồng trên dòng nước trong xanh, nghe những câu chuyện về vị tướng giang hồ hảo hán Dương Văn Dương thật thú vị.
Dương Văn Dương năm 1945. Ảnh: Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Ảnh tư liệuHy sinh giữa mùa xuân kháng chiếnGiữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình trực tiếp xuống thăm Sở Chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An và quyết định bổ nhiệm ông Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7. Các lực lượng quân sự được tổ chức lại, thống nhất cấp trên đại đội là chi đội, bỏ danh xưng “bộ đội”. Lực lượng Bình Xuyên phiên chế thành: Chi đội 2, Chi đội 3, Chi đội 4, Chi đội 7, Chi đội 9, Chi đội 21 và Chi đội 25. Vì yêu cầu tác chiến, Khu bộ phó Dương Văn Dương kiêm luôn chức Chỉ huy trưởng Liên chi đội 2-3. Dương Văn Hà (Năm Hà) cũng được phong chức chỉ huy các chi đội.Đến cuối năm 1945, đầu năm 1946, đích thân Tư lệnh Dương Văn Dương đi thực địa và chọn 5 địa điểm để xây dựng căn cứ ở Rạch Xu, Vàm Tượng, Rạch Lá làm cơ sở kháng chiến lâu dài. Theo lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, ông trực tiếp đưa quân chi viện đánh Pháp ở mặt trận Biên Hòa, thắng lợi vang dội. Sau đó, Khu bộ phó Dương Văn Dương còn nhận lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên từ Chiến khu Rừng Sác xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và thống nhất các lực lượng vũ trang nơi đơn vị tiếp quản.Theo vị thủ lĩnh anh hùng của Rừng Sác, nguyên Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn 10 Lê Bá Ước, Dương Văn Dương, người thủ lĩnh có uy tín của Bình Xuyên đã có ý thức xây dựng một lực lượng giang hồ đi theo cách mạng và chiến đấu anh dũng ngay từ khi quân Pháp trở lại Sài Gòn. Sau khi hy sinh trong cuộc hành quân về Bến Tre (với cương vị Khu bộ phó Khu 7, chỉ huy trưởng cuộc hành quân), Dương Văn Dương được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy phong quân hàm Thiếu tướng.Cuộc hành quân bi hùng trên diễn ra vào đầu năm 1946. Theo yêu cầu của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu chi viện cho miền Tây, Khu bộ phó Khu 7 Dương Văn Dương đã triệu tập hội nghị quân sự tại Rạch Su. Ông đã trình bày kế hoạch đưa quân xuống tăng cường Chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa - Giao Hòa đang bị quân Pháp vây hãm uy hiếp căng thẳng. Được sự đồng ý của Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình, ông ra lệnh chọn các đơn vị có thành tích để thành lập liên quân, gồm 5 đại đội, hành quân về Bến Tre, do mình trực tiếp chỉ huy. Ông cũng chỉ thị cho các đơn vị liên quân tổ chức ăn Tết Nguyên đán trước 3 ngày để chuẩn bị hành quân.Đêm 30 Tết Bính Tuất năm 1946, Tư lệnh Dương Văn Dương ra lệnh binh sĩ lên tàu xuồng vượt sông Soài Rạp, nhanh chóng hành quân xuyên qua Bình Phục Nhất. Liên quân vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh quân Tân Quy đánh Chợ Trạm. Cánh quân Tân Thuận đánh Cần Đước. Cánh quân Nhà Bè đánh Cần Giuộc. Sau đó, các cánh quân hợp tại Chợ Gạo trước khi tiến vào Bến Tre. Tuy nhiên, khi liên quân vừa đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin cấp báo mặt trận An Hóa - Giao Hòa đã bị địch đánh chiếm. Dương Văn Dương cùng Bộ Chỉ huy hành quân liền tổ chức hội nghị quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của Pháp, sau đó hành quân về xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc do hai ông Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn chỉ huy. Tiếp theo, bàn kế hoạch phối hợp mở mặt trận đánh quân Pháp và giải tán Đệ tam Sư đoàn đã có những hành động quân phiệt gây bất bình trong nhân dân.Hội nghị đang diễn ra khẩn trương thì nhận tin cấp báo quân Pháp sắp tấn công liên quân. Các đơn vị nhận lệnh triển khai lập phòng tuyến. Tình hình nguy cấp, Tư lệnh Dương Văn Dương được một cán bộ tham mưu đưa cho một xấp giấy thuế thân nhằm giả làm thường dân vượt thoát bảo toàn tính mạng và lực lượng. Nhưng ông bất ngờ xé vụn và khẳng khái nói: “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.Tinh thần quả cảm của người đứng đầu đã truyền thêm sức mạnh cho liên quân vùng lên kháng cự. Khoảng hơn 8 giờ sáng, ba chiếc máy bay Spitfire của quân Pháp từ phía bắc lao tới, quần đảo mấy vòng rồi chúi xuống xả nhiều loạt đạn. Tư lệnh Dương Văn Dương bị một viên đạn kẻ thù xuyên thẳng lồng ngực, ông hy sinh ngày 17-2-1946. Thi hài ông được bộ đội và nhân dân bảo quản chôn cất tại làng Châu Bình thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, hài cốt của chiến tướng Dương Văn Dương được cải táng đưa về yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.Sự hy sinh anh dũng của Tư lệnh Dương Văn Dương có sức động viên to lớn tinh thần chống Pháp của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Nam Bộ. Năm 1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra quyết định công nhận ông là liệt sĩ và truy phong quân hàm Thiếu tướng. Trong mật điện số 946/TRT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn đến gia quyến của Tư lệnh Dương Văn Dương.Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười. Vốn trước đây, kênh mang tên La Grandière, một viên tham biện tỉnh Tân An do chính quyền thực dân cử đứng ra điều hành công việc đào kênh. Kênh Dương Văn Dương dài 45km, chảy qua địa bàn huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An sang tỉnh Đồng Tháp.Ngoài ra, Trung đoàn 300 - Trung đoàn Nam tiến còn được vinh dự mang tên Trung đoàn Dương Văn Dương. Tên ông được đặt cho một ngôi trường Trung học phổ thông và một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng thật đẹp. Từ thủ lĩnh Bình Xuyên đến Khu bộ phó Khu 7 là một hành trình phong phú, dũng cảm, kiên trung, nghĩa khí.


