"Em ơi! Thương em nhiều lắm"
"Ngọc Lan từ một văn thư trở thành y sỹ của Sư đoàn 325. Đến năm 1969, tốt nghiệp ĐH Y rồi được chuyển về làm việc tại bộ Y tế. Hậu phương vững chắc. Tôi an lòng trên các chiến trường đầy đạn bom, gian khổ. Nhớ đến người vợ trẻ ở hậu phương, tôi chất chứa tâm sự qua những cánh thư nhận được đều cất vào trong chiếc túi màu xanh.
Thú thật, những bức thư viết trên giấy pơ-luya theo tôi suốt các chặng đường hành quân, mang theo cả tấm lòng, tình yêu của vợ. Bức thư tôi viết đầu tiên vào ngày 3/4/1952, khi bắt đầu yêu nhau và lá thư cuối viết ngày 7/5/1975, sau giải phóng miền Nam hơn một tuần.", tướng Hy nhớ lại.
Những ngày ở Việt Bắc, ông viết thư cho bà trên mọi loại giấy có thể tận dụng được. Có những bức thư chữ nhỏ chi chít trong diện tích bằng bao thuốc lá. "Em ơi, thương em nhiều lắm, nói và viết khó khi nào hết. Tìm ở đây tất cả tha thiết của lòng anh... Lan vẫn luôn gần anh, đôi mắt hiền và bàn tay mềm mại. Hôn em nhiều".
Thi thoảng dưới thư ông ký tên Khắc Ngọc, ghép tên đệm của ông và bà với nhau. Ông nói những bức thư như sợi dây tình cảm đậm đà nhất vượt qua bom đạn và thử thách. Ông đi chiến trường, thi thoảng ghé thăm nhà gửi thư nhờ mẹ cất giùm. Cứ thế, thư của ông và bà được mẹ gói lại trong mo cau, treo trên gác bếp, chờ ngày con về.
"Mỗi khi máy bay Mỹ sắp ném bom, trước khi xuống hầm ẩn nấp bà đều chạy đến gác bếp, lấy gói mo cau bọc thư, đem xuống hầm… Khi yên ổn, trở lên mặt đất bà lại cất lên gác bếp. Nhờ vậy mà thư từ giữa hai chúng tôi còn nguyên vẹn đến ngày nay.", ông xúc động kể với Pháp luật & Xã hội.
Thư "cho phép" của ông ngoại bà Ngọc Lan gửi Tư lệnh mặt trận Bình Trị Thiên. Ảnh: Gia đình & Xã hộiNăm 1966, trong một quyển nhật ký, ông viết: "13 năm rồi, nếu tính từ ngày mình gặp gỡ thì đúng 14 năm 8 ngày. Ngoài trời gió mưa đang thổi, anh như nghe cả hơi thở của em và nhìn thấu đáo tâm tư tình cảm của em lúc này...
Ừ, tình cảm cộc sống của ta đã qua hai kỳ kháng chiến, từ những phút hồi hộp, bồng bột buổi đầu đến những giờ phút hạnh phúc bên nhau rất ít ỏi mà nói với nhau nhiều, yêu nhau nhiều qua những lá thư và hăng say trong công tác, chiến đấu...".
Khi ông được điều về miền Bắc phụ trách không quân, bà lại đi sơ tán. Có những hôm về nhà, ông viết thư cho vợ: "Hôm nay về nhà lần thứ 3 kể từ hôm em đi, tờ lịch vẫn nguyên, có cả tờ báo chủ nhật. Rất nhiều việc đã làm, nhiều máy bay Mỹ rơi và cũng rất nhiều thương nhớ".
"Có lần nhớ vợ quá tôi đánh liều nhắn lên làng sơ tán trên Thái Nguyên nói con ốm nặng. Thế là bà đạp xe trong đêm lên ga Thái Nguyên rồi mua vé tàu về Hà Nội. Về đến nơi thì hoá ra bị chồng lừa", ông nhớ lại.
Vì việc này, bà sau đó viết thư "kiểm điểm nhẹ" chồng: "Em thấy anh thương con nhưng lại chưa thương em phải đạp xe gần 60 cây số và thức gần trắng hai đêm trên tàu... Em có thể phê phán nhẹ là anh hơi 'cá nhân' đấy vì ít thấy anh nghĩ đến chuyện em phải đi vất vả, cả những hôm em phải đi suốt đêm. Nếu có sự gì bất trắc thì sao nhỉ?".



