Bài viết

“Én bạc” 4324 và trận không chiến ngày 18/11/1967 qua lời kể của Thượng tướng Phạm Thanh Ngân

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Én bạc” 4324 và trận không chiến ngày 18/11/1967 qua lời kể của Thượng tướng Phạm Thanh NgânNhững du khách từng đặt chân đến Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam chắc hẳn không thể quên được được hình ảnh con “én bạc” đứng ngạo nghễ dưới những tán cây sum suê ngay phía cổng bảo tàng. Đó là máy bay MiG-21 số hiệu 4324 “Bảo vật quốc gia” với 14 ngôi sao đỏ tượng trưng cho 14 lần bắn rơi máy bay địch. Một trong những ngôi sao chiến công đó được lập nên bởi phi công Phạm Thanh Ngân và máy bay MiG 4324 trong trận không chiến ngày 18/11/1967.

Sau những thất bại trên bầu trời miền Bắc giai đoạn cuối tháng 10/1967, Không quân Mỹ thay đổi phương thức, đánh phá trở lại sân bay Nội Bài và các mục tiêu quanh Hà Nội từ giữa tháng 11/1967. Ngày 18/11, 16 chiếc F-105 của Mỹ thuộc Không đoàn tiêm kích chiến thuật 388 chia làm 4 tốp, xuất phát từ căn cứ không quân Korat (thành phố Nakhon Ratchasima, Thái Lan) bay vào tấn công các mục tiêu chính quanh Hà Nội và sân bay Nội Bài. Trong một dịp được gặp gỡ Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, nguyên phi công lái máy bay MiG-21 số hiệu 4324, chúng tôi may mắn được ông thuật lại trận không chiến ngày 18/11/1967 giữa biên đội MiG-21 của Trung đoàn không quân 921 và Không đoàn tiêm kích chiến thuật 388 của Mỹ. Đã gần 80 tuổi nhưng ông vẫn giữ nét tinh anh, tác phong nhanh nhẹn đậm chất lính không quân. Ông kể: “Khi đó, nhận định tình hình và phương án tác chiến, Bộ Tư lệnh Không quân giao nhiệm vụ chiến đấu cho Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 tổ chức đánh tốp cường kích, bảo vệ các trận địa của ta, mục tiêu quanh Hà Nội và sân bay Nội Bài. Sở Chỉ huy Trung đoàn 921 quyết định sử dụng biên đội MiG-21 của Đại đội 1 gồm có Phạm Thanh Ngân – phi công số 1, lái máy bay MiG-21 số hiệu 4324 và Nguyễn Văn Cốc – phi công số 2, lái máy bay MiG-21 số hiệu 4326. Xác định chiến thuật đã có hiệu quả ở những trận đánh trước, chỉ huy trung đoàn yêu cầu biên đội thực hiện phương pháp đánh nhanh – thọc sâu và tạo điều kiện để cả hai số đồng thời công kích”. 7 giờ 48 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bài bay về phía khu vực Thanh Sơn, Phú Thọ. 7 giờ 53 phút, ra-đa phát hiện một tốp 4 chiếc F-105 đang di chuyển từ Yên Châu về Hạ Hòa. Theo hướng dẫn từ Sở Chỉ huy, Nguyễn Văn Cốc - phi công số 2 đã phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 8 km, số 1 Phạm Thanh Ngân nghiêng máy bay về phía bên trái, cũng nhận ra 2 chiếc nữa. Cầm bút vẽ minh họa lại đường bay của máy bay địch, Thượng tướng miêu tả: “Tốp máy bay F-105 của địch bay theo đội hình “bàn tay xòe” gồm 4 chiếc so le. Thấy vậy, mình và anh Cốc phải bật tăng lực toàn phần, tăng tốc độ lấy độ cao cao hơn đối phương khoảng 1.500 - 2.000m để tiếp cận. Quan sát không có địch bám theo, mình xin lệnh của Sở Chỉ huy cho tấn công và yêu cầu anh Cốc cắt thùng dầu phụ, lao vào công kích.” Rút kinh nghiệm từ những trận không chiến trước đó, tốp máy bay địch tăng cường thả nhiễu. “Xác định máy bay F-105F vị trí số 4 mang tên lửa đối đất nhằm chế áp tên lửa mặt đất của ta, mình hít thở sâu lấy bình tĩnh rồi đưa địch vào tầm ngắm, đến cự ly 1.800m thì phóng tên lửa, máy bay địch bị trúng tên lửa xoáy về bên phải rơi xuống đất”. Nói đến đây giọng ông bỗng rộn vang hẳn, ông kể tiếp: “Sau khi hạ được một máy bay địch, tôi kéo cần lái đưa máy bay lên cao rồi lật úp lại để quan sát. Thấy chiếc F-105 số 3 của địch ngay trước mặt, mình lập tức đưa vào tầm ngắm và phóng tên lửa. Trong giây lát, máy bay quá gần mục tiêu, nếu giữ nguyên có thể lao vào máy bay địch, mình liền điều khiển máy bay lên cao và thoát ly gấp nên không kịp quan sát kết quả của lần phóng tên lửa này.” Sau này, phi công số 2 Nguyễn Văn Cốc khi bay phía sau có báo cáo lại đã quan sát thấy chiếc F105 bị trúng tên lửa, văng nhiều mảnh vỡ. Trận không chiến vẫn tiếp diễn, phi công số 2 Nguyễn Văn Cốc bám sát chiếc F-105 số 1 trong đội hình địch. Sau khi tăng lực toàn phần, tiếp cận ở cự ly 1.200m, tốc độ đạt 1.200km/h điểm ngắm ổn định, Nguyễn Văn Cốc ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa R-3S vút xoáy lao đi, đâm trúng máy bay địch. Viên chỉ huy máy bay địch cố lái máy bay về biên giới Việt - Lào nhưng khi cách biên giới 20km đã phải nhảy dù, máy bay rơi gần đó. Chưa đầy 1 phút, tốp F-105 của Mỹ dẫn đầu làm nhiệm vụ chế áp hệ thống phòng không của ta đã bị tan rã, bầu trời trở nên quang đãng đối với các xạ thủ tên lửa và pháo phòng không, các trận địa tên lửa dễ dàng bắn vào tốp cường kích đang bay vào, trong đó 2 chiếc F-105D khác bị tên lửa SAM-2 bắn rơi. Theo các tài liệu nghiên cứu sau này, máy bay F-105D có Đại tá Edward Burke Burdett, Không đoàn trưởng Không đoàn tiêm kích chiến thuật 388 khét tiếng của Không quân Mỹ chỉ huy trận đánh bị trúng tên lửa SAM khi đang bay trên độ cao 5.500m, máy bay bị nổ khi cố bay ra phía biên giới. Còn chiếc máy bay bị trúng tên lửa của Nguyễn Văn Cốc là Trung tá William N. Reed, Phó Không đoàn tiêm kích chiến thuật 388. (1) Chất giọng sang sảng, Thượng tướng nói: “Đó là trận tác chiến hiệu quả nhất của hai anh em khi cả hai chiếc MiG-21 tham gia chiến đấu đều tiêu diệt địch. Sau khi thoát ly, mình và anh Cốc không thể hạ cánh tại sân bay Nội Bài vì đang bị bao vây và ném bom. Sở Chỉ huy cho phép hạ cánh tại sân bay nước bạn, cách biên giới nước ta 300km. Tuy nhiên trời nhiều mây, thời tiết xấu, phi công không nhìn thấy đường băng. Mình và anh Cốc quyết định bay trở lại và hạ cánh tại sân bay Kép (Bắc Giang). Lúc đó phải bay ở độ cao 7.000m, tốc độ ổn định để tiết kiệm nhiên liệu. Khi đó đã tính đến việc nếu hết dầu phải nhảy dù. Đến khi hạ cánh an toàn, bộ phận kỹ thuật kiểm tra dầu đã gần cạn, ước tính chỉ bay được 2-3 phút nữa là phải bỏ máy bay.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn