Fidel Castro với Hồ Chí Minh và Việt Nam
Tháng 10/1989, tại thành phố New York, José Martí đã cho xuất bản số cuối cùng của tạp chí La Edad de Oro (Tuổi vàng). Trong một bài viết mang tên “Cuộc dạo chơi trên đất nước của người An Nam”, người anh hùng Dân tộc của Cuba đã ngợi ca lòng dũng cảm và anh hùng của một dân tộc cao quý, bất khuất - một dân tộc đã nhiều lần đánh bại các thế lực xâm lược ngoại bang hùng mạnh. Ngày 19/5/1890, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, và đúng năm năm sau, cũng vào ngày 19/5, José Martí ngã xuống trong chiến đấu. Lịch sử, như một sự sắp đặt đầy ý nghĩa, đã kết nối hai dân tộc tiêu biểu cho ý chí quật cường và tinh thần anh hùng trong cuộc đấu tranh chống lại các đế quốc hùng mạnh. Đối với Fidel Castro, một người am hiểu sâu sắc và say mê lịch sử thế giới, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 của Việt Nam không chỉ là một sự kiện quân sự, mà còn là một biểu tượng mang tầm vóc thời đại. Hình tượng và tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao đối với ông.
Ngày từ những ngày đầu non trẻ của nền ngoại giao cách mạng, Cuba đã có một quyết định mang tính lịch sử: thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 02/12/1960. Cuba trở thành quốc gia đầu tiên ở Tây bán cầu làm điều này, vươn bàn tay hữu nghị để hiện thực hóa đoạn kết sắc sắc với dân tộc đã trải qua nhiều đau thương nhưng vẫn anh dũng, kiên cường - một dân tộc từng đánh bại các cuộc can thiệp quân sự của Nhật Bản và Pháp, đồng thời đang kiên định đối đầu với Hoa Kỳ.
Ngày 17/02/1961, Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba chính thức được khánh thành. Thấu hiểu những khó khăn mà nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt, theo đề xuất của Fidel, toàn bộ chi phí hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao này do Chính phủ Cuba đảm nhận.
Ngày sau đó, các hoạt động hợp tác và trao đổi đoàn giữa hai nước nhanh chóng được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Cuba mở rộng vòng tay đón nhiều thanh niên Việt Nam sang học tập, những người sau đó đã hấp thụ tinh thần của cách mạng Cuba và trở thành cầu nối văn hóa giữa hai dân tộc. Theo sáng kiến của Fidel, một đoàn sinh viên Việt Nam đầu tiên đượcc ử sang Cuba học tiếng Tây Ban Nha. Chỉ trong thời gian ngắn, họ đã trở thành những “sứ giả văn hóa”, góp phần phá vỡ sự phong tỏa về văn hóa và thông tin mà Việt Nam phải đối mặt trong bối cảnh chiến tranh.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đón nhận sự hiện diện đầy nghĩa tình của các chuyên gia Cuba, từ bác sĩ, giáo viên, kỹ sư xây dựng đến nông dân và quân nhân. Họ không chỉ mang đến sự hỗ trợ thiết thực, mà còn học hỏi từ kinh nghiệm chiến đấu kiên cường của một dân tộc đứng vững trước cuộc chiến tranh khốc liệt do Hoa Kỳ tiến hành. Cuba đã coi sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là sự nghiệp cách mạng của chính mình; vì vậy, Cuba không ngừng lên án các hành động leo thang chiến tranh, đồng thời thể hiện sự đoàn kết toàn diện với Việt Nam trên cả bình diện trong nước và quốc tế.
Ngày 25/9/1963, tại La Habana, Ủy ban Cuba Đoàn kết với miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và trở thành tổ chức Đoàn kết với miền Nam Việt Nam đầu tiên trên thế giới, do nữ anh hùng Moncada Melba Hernández làm Chủ tịch.
Đến tháng 12/1965, Cuba tiếp tục khẳng định lập trường kiên định của mình khi công nhận mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tiếp nhận phi đoàn thường trực tại La Habana với chế độ ngoại giao đầy đủ, đồng thời tiếp tục đảm nhận toàn bộ chỉ phí hoạt động của bộ phận đoàn này. Đó là giai đoạn nước Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hủy diệt quy mô lớn tại Việt Nam. Trong bối cảnh khốc liệt ấy, các chuyên gia Cuba thuộc nhiều lĩnh vực đã trực tiếp có mặt tại Việt Nam, góp phần cứu chữa con người, hỗ trợ tái thiết phát triển.
Ngày 02/01/1966, tại Quảng trường Cách mạng Ở La Habana, trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 7 năm thắng lợi của cách mạng Cuba, và trước các đại biểu tham dự hội nghị Đoàn kết với châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh lần thứ nhất (hay còn gọi là Hội nghị Tricontinental), Fidel Castro đã đưa ra một tuyên bố mang tính biểu tượng sâu sắc: “Đối với nhân dân Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng không chỉ trao đi đường của mình, mà còn trao cả máu của mình - thứ còn quý giá hơn nhiều so với đường! Và điều đó, nhân dân Việt Nam và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam anh hùng hiểu rõ ràng”[1].
Cũng trong năm đó, ngày 29/10, Tổng thống Osvaldo Dorticos và Bộ trưởng Bộ lực lượng Vũ trang cách mạng khi ấy, Tư lệnh Raúl Castro Ruz, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao đầu tiên của Cuba thăm Việt Nam. Chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa đặc biệt, mà còn tạo điều kiện để hai nhà lãnh đạo trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời chuyển tải Người sự trọng sắc của lãnh tụ Cách mạng Cuba Fidel Castro.



