Khác

Gã sĩ quan mang số hiệu 180234 (1)

Sỹ quan trong quân đội có hai loại: loại có số hiệu và loại không có số hiệu. Có số hiệu có thể phấn đấu tới hàm cấp tướng, lương bổng cao ngất ngưởng, còn không có số hiệu, cấp bậc chỉ đến úy là chấm hết. Đối với gã, con đường công danh rất rạng rỡ: lý lịch miễn góp y, đào tạo sỹ quan chính quy. Học xong hắn tốt nghiệp loại ưu, phong quân hàm chuẩn úy mang số hiệu 180234. Số hiệu này cực đẹp, cứ cộng tổng tận cùng các số với nhau đều cho kết quả là 9. Mây 9 tầng, rồng 9 khúc, voi 9 ngà

Lai Châu02/07/2026Phạm Dũng (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phần I

KÝ ỨC XƯA

Dòng họ Phạm nhà tôi có cụ Như Bình làm quan Thái Bảo thuộc Triều đình nhà Lê, con trai cụ là Như Chính được phong phẩm hàm Quận Công. Khi hai ông mất linh cữu đưa về quê nhà an táng và xây lăng mộ thờ. Đến đời thứ 8, cụ Danh Văn (còn gọi là cụ giáo, thầy đồ Nho) làm tới chức Tổng giáo. Cụ có hai con trai nhưng đến cháu nội là cụ Đồ Huỳnh mới theo nghiệp giáo học. Cụ Quản Sứ là con thứ hai Cụ Đồ Huỳnh, chính là ông tổ gia hệ nhà tôi. Thời đó nhà tôi ở ngoài trại (bìa làng) vườn tược, đất đai rất rộng, chủ yếu trồng chè, mít, bưởi, hồng, xoan và cây chay zó. Bờ rào trồng những bụi duối lá nhỏ thô ráp, gỗ rất chắc và những khóm tre già mọc chen chúc đầy gai.

Dân đất trại cần cù, kiên nhẫn và giàu lòng can đảm. Ông nội tôi là con cả cụ Quản Sứ, sinh được năm anh em: bố tôi, hai chú và hai cô. Nhà nghèo đông miệng ăn nên các cô chú cũng không được, học hành chu đáo. Mẹ tôi kể lại: Nạn đói năm 1945 ở quê tôi thật khủng khiếp. Dọc đường, chợ, bờ ao, bụi cây... chỗ nào cũng thấy xác người chết. Những con người da bọc xương, đen đúa lần mò, dắt díu nhau đi xin ăn, bới từng đống rác tìm kiếm thức ăn. Tối đến chui vào mảnh chăn, mảnh chiếu gặp đâu ngủ đấy cho qua ngày, sáng ra lả đi mãi mãi không bao giờ tỉnh lại để nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Ông nội và bố tôi ra đi cũng trong cảnh thương tâm như vậy! Có điều khi nhắm mắt còn được nằm trên vòng tay thương tiếc của người thân trong nhà.

Năm đói 1945 vùng quê tôi chịu hậu quả nặng nề nhất. Hồi đó phát xít Nhật bắt dân làng phá lúa trồng đay, hàng triệu người lâm vào cảnh đói, lũ lượt ra đi rời bỏ quê hương kiếm ăn nơi khác, người Thái Bình sang Nam Định, người vùng xuôi lên vùng ngược. Đến khi chết người nhà vẫn không biết tin tức! Khi có hạt thóc để ăn nhiều người cũng lăn ra chết do ăn no bị bội thực. Hơn ba triệu dân lành của vựa lúa đồng bằng sông Hồng đã vĩnh viễn ra đi như vậy, trong đó có ông nội và bố tôi. Đói... đói đến nỗi không còn gì để ăn, họ đào các gốc cây chuối luộc ăn, kéo nhau ra bờ mương, bờ ruộng đẽo nhặt từng cọng rau tàu bay, rau má về ăn qua bữa. Tóm lại bất kể thứ gì có thể ăn được con người đều để mắt tới nhằm tìm ra sự sống!.

Bước sang tháng ba thời kỳ giáp hạt nặng nề. Ông tôi, bố tôi rất lo cho mười miệng ăn trong nhà. Cô chú đang tuổi ăn, tuổi lớn, mẹ tôi nuôi ba chị em. Chị tôi lên bốn, anh tôi hai tuổi hơn, còn tôi bé xíu mới sáu bảy tháng. Cái đói và sự túng quẫn dẫn đến cái chết ông nội tôi! Sáng hôm ấy, ông dậy như mọi ngày, trong bụng lép kẹp vì đói. Ông ra vườn hái một nắm búp chè tươi nhai ngon lành và uống một gáo nước mưa. Ông thong thả vào buồng lấy bộ quần áo the mới, đội chiếc khăn xếp sang chỗ anh em tôi nằm, hôn vào má từng đứa cháu rồi ông lặng lẽ đi ra. Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi, ông chỉ dặn cố nuôi ba đứa cháu của ông và ông lên giường nằm. Khi mọi người vây quanh thì đôi mắt ông không còn nhắm lại được nữa, bọt trắng từ miệng ông trào ra. Ông tôi mất hôm ấy là ngày 26 tháng 3 năm Ất Dậu! Bao nhiêu gánh nặng đè lên vai bố tôi, vừa lo mai táng ông cụ, vừa lo tám, chín miệng ăn hàng ngày. Mẹ tôi làm thêm bánh khúc, bún riêu cua mang ra ga Phổ sở bán cho khách đi tàu, được chút lãi là mua gạo về nấu cháo cho cả nhà. Món bún riêu của mẹ tôi là đắt khách nhất, mỗi nồi riêu tiêu tốn hai giỏ của do bố tôi kiếm hàng đêm. Tối nào cũng vậy, mẹ tôi là người ngủ muộn nhất. Tắm giặt cho con cái xong, chuẩn bị sẵn hàng để sáng dậy sớm nấu cho kịp phiên chợ, cũng không quên phần cho bố tôi một chiếc bánh khúc. Bà vào nằm cạnh ba chị em chờ bố tôi đi bắt cua về. Khi nghe tiếng động ngoài sân, mẹ tôi dậy đổ cua ra chậu phân loại to nhỏ để sáng mai làm hàng. Những con cua béo vàng, lạo xạo lấp lánh dưới ánh trăng như tâm sự cùng bà. Sau khi rửa chân tay, ăn chiếc bánh là bố tôi lăn ra ngủ. Lúc đó trời cũng gần về sáng!

Vào thời điểm thóc cao, gạo kém khách đi lại rất ít. Một nồi bún riêu cua nhiều hôm chỉ bán được một nửa. Ế hàng, mẹ tôi van nài mấy người bạn ăn giúp để lấy vốn. Nhiều người ăn xong cũng không có tiền trả dù chỉ lấy nửa tiền.

Cuộc sống ngày càng khó khăn, túng quẫn. Bà tôi, mẹ tôi vay mượn khắp nơi để cứu đói từng ngày. Nửa tháng sau khi ông nội tôi mất, bố tôi đổ bệnh và qua đời ở tuổi 36, đó là ngày 16 tháng 4 Ất Dậu.

Vừa thương chồng, thương con lại lo cho mẹ già và các em, mẹ tôi tần tảo chạy xuôi chạy ngược buôn bán, vay mượn nhằm vượt qua những ngày đói kém và đau thương. Các cô, các chú, tập trung giúp chị nuôi cháu. Việc gia đình đặt lên đôi vai gầy nhỏ bé của mẹ tôi ở tuổi ba mươi. Tiếp theo là những chuỗi ngày lẻ bóng ngậm ngùi nuôi ba đứa con nhỏ thơ dại!.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Gã sĩ quan mang số hiệu 180234« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2020, 08:23:09 pm »

*

*
Đầu năm 1954, quân Pháp sắp thua ở Điện Biên Phủ, vùng quê tôi chỉ còn rất ít quân địch. Chúng đi lại trên các xe bọc thép dọc Đường 10 từ Núi Gôi đi Cầu Chuối ra Nam Định. Thỉnh thoảng lại xả súng bắn bừa bãi để thị uy. Nhà cửa của dân chúng đốt sạch, cây cối phát quang tạo thành vành đai trắng dọc quốc lộ. Không còn nơi ở. Mẹ tôi đưa cả nhà chạy tản cư tới làng Báng cách đó chừng ba, bốn cây số.

Khi ấy, tôi và anh tôi đã là những thiếu niên nhanh nhẹn giúp mẹ nhiều việc. Hàng ngày, chúng tôi len lỏi vào những thửa ruộng hoang, cỏ nặn, cỏ lác mọc lút đầu để tìm trứng vịt trời, le le, bắt cua, cá và tuốt những bông lúa còn sót lại. Nhiều hôm nhớ nhà hai anh em quên cả nguy hiểm rủ nhau về nhà cũ lấy rau quả và dụng cụ còn sót lại cho mẹ tôi.

Một buổi chiều cô tôi cùng hai anh em lấy được nhiều thứ nồi niêu, mâm bát cho vào quang gánh đưa lên khu tản cư thì cô tôi nghe thấy tiếng súng bắn từ Núi Gôi. Lo sợ bọn địch đi càn mấy cô cháu giục nhau đi nhanh. Tới gần làng Cao Phường, bọn địch từ bốt Cầu Chuối nhìn qua ống nhòm thấy có người đang chạy, chúng nổ súng, đạn vung vãi xung quanh nhưng rất may không trúng ai. Khi đã an toàn, cô tôi xem lại quang gánh phát hiện hai chiếc nồi đồng bị đạn xuyên thủng!



* *
Cuối năm 1954, quê tôi hoàn toàn giải phóng. Mẹ con bồng bế nhau cùng đoàn người tản cư trở về. Niềm vui thật khó tả trên khuôn mặt mọi người. Sướng nhất là đứng ở nhà tôi nhìn lên Núi Gôi, Núi Lê, Núi Ngăm, Núi Hổ, Cầu Chuối... Thấy rõ những lô cốt của địch đen xì, im lìm gờn gợn như những bóng ma. Nhà tôi giặc phá chẳng còn gì. Chiếc bể nước cũng biến thành cộng sự vỏ đạn vương vãi khắp nơi. Chiếc cối đá dùng để giã cua vỡ làm hai mảnh. Sân hè ngày xưa ông nội tôi lát bằng gạch bản, bị cày xới ngổn ngang, cỏ may, cỏ gianh mọc khắp nơi, hoa cỏ bám trắng cả quần áo cứ ngồi gỡ cả ngày không hết!

Buổi trưa, vùng quê thật yên tĩnh. Nắng hè oi bức, mặt đất bốc lên mùi cỏ héo dịu ngọt. Từ những lùm tre tiếng chim cu gáy giọng kim, giọng thổ gù gáy âm vang, huyền bí. Dứa lại phát triển khắp nơi làm tổ cho các loài chồn, cáo, rái cá và chuột... mặt ao chật cứng bèo tây, tôm cá nhiều vô kể.

Từ nhà tôi xuống chợ mỗi khi đi qua cái ao và bụi tre nhà bà Bái tôi thấy cứ rờn rợn. Người ta đồn rằng gốc tre ấy có con ma đầu lốc, hôm nào trở trời có sấm chớp nếu qua đó là nhìn thấy một chiếc sọ người lăn ở dưới ao lên bờ và biến mất vào vườn cỏ gianh...

Tối hôm ấy rì tôi nhắn: cậu tôi là công nhân cầu đường gửi cho tôi một đôi giày vải nhờ chú Liên người Làng Ba mang hộ. Tôi mừng quá! Phải lấy ngay bây giờ ư? Nhưng qua bờ ao nhà bà Bái!? Nhìn trời chưa tối hẳn, tôi quyết định chạy thật nhanh qua bờ ao, mấy khóm tre, vườn cỏ gianh... đến nhà chú Liên chừng 500 mét. Chú đưa cho tôi đôi giày ba ta còn thơm mùi cao su bảo tôi đi thử. Đẹp quá, vừa quá, tôi mừng quýnh chào chú và cứ để cả giày chạy về. Trời tối hẳn lại có hạt mưa và ánh chớp từ xa. Tôi chạy như bay trên mặt đất, mắt đảo nhanh hai bên đường. Qua bờ ao và bụi tre bà Bái, tôi lấy can đảm cất tiếng hát ú ớ như người bị ngọng.

Qua ánh chớp sáng lòe bỗng tôi nhìn thấy một vật to tròn như chiếc nồi đất đang bò rất nhanh lên vườn. Tóc tôi dựng đứng, người lạnh toát như muốn quỵ xuống. Ánh sáng tia chớp khiến tôi nhìn rõ con vật vừa ở ao lên có bốn chân và cái cổ dài ngoẵng. Định thầm nhìn lại phát hiện ra con ba ba khá to! Sáng dậy tôi chạy tìm vết tích con vật tối qua và bới được năm sau quả trứng ba ba đẻ trên cạn. Tôi kể chuyện cho cả nhà nghe, mọi người trầm trồ khâm phục cậu bé lên 10.

Vùng quê mới giải phóng đâu đâu cũng bận rộn, xây dựng nhà cửa, phá hoang trồng cấy để có lương thực. Sự sống đang hồi sinh khắp mọi nơi.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Gã sĩ quan mang số hiệu 180234« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2020, 06:05:44 am »

*

*
Sang năm 1956 nguy cơ đói lại xuất hiện, ruộng đất mới khai hoang chưa trồng cấy được nhiều. Kinh tế từng nhà suy kiệt, chính quyền mới chưa đủ khả năng cứu đói cho dân. Chị em chúng tôi lại bị cái đói giằng xé. Rất may chúng tôi đã lớn, chị tôi đi ở cho người trên Hà Nội, hai anh em ở nhà cùng mẹ mò cua bắt ốc sống qua ngày.

Cải cách ruộng đất, nhà tôi quy thành phần bần nông. Anh em tôi được đi học. Anh tôi học dân lập ở tận Gôi, tôi học quốc lập trường nhà. Cả hai, sáng đi học, chiều về khiêng nước ăn đổ vào bể, đi cuốc hoặc đập đất làm ải giúp mẹ. Kinh tế eo hẹp lắm! Ruộng đất nhiều nhưng chỉ cấy được một vụ. Sang tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch là nước ngập trắng cả một vùng ruộng lớn, đi lại chủ yếu bằng thuyền. Sau này có hệ thống thủy lợi nên lụt không còn, ruộng cấy một vụ chuyển sang hai vụ hoặc trồng rau màu vụ ba. Vào tháng mười thu hoạch lúa mùa, mẹ tôi cấp tốc hong phơi vài mẻ lúa để xay giã cúng cơm mới đầu mùa. Hôm ấy anh em chúng tôi được bữa no nê. Đồ cúng thật đơn giản, đĩa thịt lợn rang mặn, xu hào xào, bát canh bún nấu cua có thêm những cọng rau rút. Cơm xới ra bát thơm phức, mỡ màng, hạt cơm dẻo không gẫy vỡ, để nguội chan với nước cáy, nước tương thật là tuyệt.

Ngôi nhà ở và hai gian bếp được làm trên nền cũ. Tường đất mái gianh hoặc lợp rạ nên mùa hè rất mát, mùa đông ấm. Ba gian nhà trên một gian làm buồng để thóc gạo, đồ dùng, gian giữa nơi thờ cúng, gian bên chỗ ngủ kê chiếc giường tre cũ kỹ. Bếp đun thấp tè, tường đất nứt nẻ có thể cho cả bàn tay chui qua. Mái bếp lợp lá mía, gian cạnh bếp là chuồng lợn. Muốn giàu thì nuôi cá, muốn khá thì nuôi heo. Những con heo nhà tôi nuôi quá khổ! Thức ăn là bèo tây băm trộn với cám gạo cho có mùi thơm. Chúng ăn cả ngày không hết. Cả chuồng chỉ có một con heo bé bằng bắp chân, nuôi sáu bảy tháng mới được vài chục ký. Về sau chị tôi đi ở có tiền đưa về, mẹ tôi chuyển sang nuôi lợn nái. Vết thương chăn lợn nái còn để lại ống chân trái tôi một vết sẹo dài 2 cm rộng l cm. Lợn đẻ rất dữ, cứ cho ăn là lồng lên bảo vệ con. Buổi trưa đi học về thấy nhà vắng tanh, lợn đói kêu la thảm thiết. Tôi vần chiếc máng sành to nặng đã vỡ một góc ra trộn cám với bèo cho chúng ăn. Học sinh lớp ba bé nhỏ, yếu ớt học về chưa ăn gì lại bị con heo mẹ khủng bố nên lóng ngóng tuột tay rơi chiếc máng sành vào ống chân. Tôi vứt đó chạy vào nhà lấy thuốc lào cầm máu, rất may không bị nhiễm trùng uốn ván. Mấy tháng sau liền sẹo!

Hai anh em chúng tôi đều chịu khó học tập. Anh tôi học giỏi và rất quý tôi. Tôi lấn tới là anh nhường ngay. Hàng ngày, làm gì anh em cũng có nhau: khiêng nước, đập đất, cuốc vườn, đi câu, mò bắt tôm cá, thậm chí đi vệ sinh cũng đi... hai.

Một hôm chỉ vì trò chơi vớ vẩn mà chúng tôi đốt mất ngôi nhà thân yêu của mình. Buổi trưa, hai anh em nấu cơm. Mùa hanh khô rơm rạ cháy rất nhanh. Tôi ngồi sát tường phát hiện qua khe nứt có một chú dế mèn cứ thập thò như trêu tức. Sẵn chiếc que kều bằng gỗ đang cháy tôi luồn qua tường nứt đốt râu chú dế. Gặp nóng chú dễ chạy ngược lên chỗ rộng, chẳng may ngọn lửa que kều bám vào phần lá mía mái bếp cháy lên nhanh chóng. Bên trong, chúng tôi vẫn không biết hiểm họa sắp xảy ra, mãi đến khi ngọn lửa bùng lên mới hốt hoảng chạy ra bể múc nước vẩy lên đám cháy. Trong nháy mắt, bếp bị thiêu trụi, ngọn lửa loang loáng bén lên ba gian nhà ở. Lúc này mẹ tôi cùng mọi người ở ngoài đồng chạy về thì mọi chuyện đã rồi. Công lao mấy mẹ con sau những năm giải phóng biến thành tro bụi. Tất cả làm lại đầu!



* *
Thế là anh tôi trúng tuyến vào Trường sư phạm Nam Định. Học xong sẽ làm thầy giáo. Nhiều hôm nhớ anh tôi đi bộ đến tận trường Lê Hồng Phong ngồi chờ ở cổng để gặp anh. Anh đưa tôi đi ăn cơm tập thể, leo lên tầng 2 chiếc giường cá nhân xem sách vở của anh. Khi về, tôi cứ nao nao tự hào về người anh của mình!

Năm 1962, chính quyền ngụy Sài Gòn chia rẽ lục dục. Tới năm 1963 Ngô Đình Diệm bị ám sát chết trong một cuộc đảo chính. Tình hình miền Nam hết sức phức tạp. Nguy cơ quân Mỹ nhảy vào can thiệp và chiến tranh có thể xảy ra.

Ở miền Bắc, thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ. Năm đó tôi mới 16-17 tuổi, cái tuổi không còn trẻ con nhưng chưa hoàn toàn người lớn. Học lớp 7A (cấp II) làm lớp phó, phụ trách văn thể, là học sinh giỏi văn nhất trường. Mấy cô bạn gái lớn nhanh như thổi đã biết đưa mắt nhìn con trai, luôn ríu rít bên thầy chủ nhiệm (chưa có vợ), khi biết tôi sắp đi thi học sinh giỏi văn của tỉnh liền bảo nhau chặn đường trêu chọc!.

Tầm gần trưa tôi đi học về chợt phát hiện trong nhà có người lạ nằm trên giường, chiếc quần ka ki vàng, áo cộc tay màu hạt dẻ, đôi dép da nâu. Ngoài hiên, một chiếc xe đạp nam cũ kỹ, chắn bùn bánh trước cong vẹo. Nhìn xe, tôi đoán của thầy giáo chủ nhiệm! Chiếc xe này thường để ở bờ rào nhà trường. Còn người nằm ngủ là thầy Lưu Kông Sa, chẳng hiểu thầy mệt hay thầy đói bụng.

Tôi vừa mừng vừa lo, chưa biết việc gì sẽ xảy ra. Tôi cứ vo gạo nấu cơm để thầy cùng ăn. Cơm chín, tôi vào mời thầy. Món ăn chỉ có cà muối, trứng chưng mặn, canh rau đay nấu với mắm tôm. Tuy vậy, thầy trò ăn ngon miệng. Thầy nhìn tôi như khuyến khích: - Chiều nay thầy trò mình đi Nam Định để sáng mai dự thi môn văn của tỉnh - Em cố gắng!

Tôi chỉ kịp nhắn lại mẹ tôi đang làm thuê ở làng An Lễ rồi lên xe thầy chở đi.

Hôm sau ngủ dậy thầy đưa tôi sang nhà ăn tập thể của Ty Giáo dục. Nhà ăn đã đông người, tôi xuýt xoa vì lần đầu tiên được ăn phở thịt lợn sao mà ngon thế. Sang phòng thi, các thí sinh tuyển chọn từ cấp huyện lên tề tựu đông đủ. Ngồi sau tôi là một bạn bị liệt cả hai tay mà chỉ viết bằng chân. Sau này chuyển ngành làm phóng viên báo chí, tôi mới biết đó là Nguyễn Ngọc Ký, hơn tôi hai tuổi, học sinh giỏi văn huyện Hải Hậu. Người có nhiều bài đăng trên báo Thiếu niên tiền phong. Qua kỳ thi đó, Nguyễn Ngọc Ký học tiếp cấp 3 và thi đỗ đại học Sư phạm Văn. Anh cũng đứng tên một số đầu sách. Tuy đôi tay bị liệt, nhưng cuộc sống của anh gặp may mắn và thành đạt.

Đầu tháng 4 năm 1963 mười đứa con trai ở lớp (trong đó có tôi) được nhà trường mời lên phòng giám hiệu nhận quyết định nhập ngũ. Cả lớp 7A có 25 nam thì gần nửa lên đường, không khí trong trường lắng xuống, buồn tẻ. Những dòng lưu niệm ghi gấp gáp, những cuộc hẹn hò thầm kín, những cái nhìn vội vã... Tất cả nhớ thương, bịn rịn đều dành cho ngày chia tay, ngày mà ô tô đơn vị về tận trường đón chúng tôi.

Bút nghiên tạm xếp lại! Chúng tôi trở thành chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn