Gần ba ngày sau hàng rào thép gai – ký ức không quên của người lính hậu cần tuổi hai mươi
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng quãng thời gian ngắn ngủi gần ba ngày sống giữa hàng rào thép gai của trại Davis vẫn in đậm trong ký ức Đại tá Nguyễn Văn Tuấn. Với ông, đó là những giờ phút đặc biệt, được ghi nhớ rõ ràng đến từng khoảnh khắc, như mới vừa xảy ra hôm qua.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng quãng thời gian ngắn ngủi gần ba ngày sống giữa hàng rào thép gai của trại Davis vẫn in đậm trong ký ức Đại tá Nguyễn Văn Tuấn. Với ông, đó là những giờ phút đặc biệt, được ghi nhớ rõ ràng đến từng khoảnh khắc, như mới vừa xảy ra hôm qua.
Sinh ngày 10/10/1953 tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn Tuấn tham gia cách mạng từ năm 1972, khi mới 19 tuổi và chỉ còn hai tháng nữa là hoàn thành chương trình phổ thông. Thời điểm ấy, chiến tranh bước vào giai đoạn khốc liệt, phong trào chống Mỹ cứu nước lan rộng khắp cả nước. “Chúng tôi – những người trẻ cùng thế hệ – đã quyết định gác lại sách vở, rời ghế nhà trường để lên đường nhập ngũ, góp sức cho Tổ quốc”, ông Tuấn nhớ lại.
Sau ba tháng huấn luyện quân sự cơ bản, đến tháng 5/1972, thay vì ra thẳng chiến trường, ông được cử đi học tại Trường Trung cấp Quân nhu ở Hà Nội. Chính từ đây, một nhiệm vụ đặc biệt đã đến với người lính trẻ chưa tròn đôi mươi.
Gần ba ngày ngắn ngủi nhưng đầy thử thách
Hiện sống tại quận 12 (TPHCM), khi nhắc lại cuộc kháng chiến chống Mỹ, kỷ niệm khiến Đại tá Tuấn nhớ nhất chính là khoảng thời gian ngắn ngủi tại trại Davis – nơi đặt trụ sở của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, được thành lập để giám sát việc thi hành Hiệp định Paris.
Ông kể: năm 1972, chiến trường miền Nam được ví như “mùa hè đỏ lửa”, còn miền Bắc phải hứng chịu những đợt đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Đỉnh điểm là 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, khi Hà Nội trở thành mục tiêu ném bom rải thảm của B-52. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973.
Ngay sau đó, Ban Liên hợp quân sự 4 bên được thành lập, và trại Davis – vốn là doanh trại cũ của quân đội Mỹ, nằm sát sân bay Tân Sơn Nhất – trở thành nơi đóng quân của các phái đoàn.
Sáng 15/1/1973, khi đang tập luyện đào bếp Hoàng Cầm tại trường, Nguyễn Văn Tuấn bất ngờ nhận lệnh lên đường. “Chúng tôi được tập trung về Học viện Chính trị ở Hà Đông. Lúc ấy mới biết mình sẽ tham gia phục vụ nấu ăn cho phái đoàn quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ông kể.
Sau gần hai tuần vừa học nội dung cơ bản của Hiệp định Paris, vừa nhận quân trang, ngày 31/1/1973, ông cùng đồng đội lên máy bay C130 của Mỹ, từ sân bay Gia Lâm vào Sài Gòn – nơi đặt trụ sở Ban Liên hợp quân sự Trung ương tại trại Davis.
Trong gần ba ngày ở đây, nhiệm vụ của người lính hậu cần trẻ là đảm bảo bữa ăn cho phái đoàn. “Trại Davis được bao quanh bởi hàng rào thép gai. Dù Hiệp định Paris quy định các phái đoàn được bảo đảm an toàn, nhưng sự cảnh giác luôn được đặt lên hàng đầu”, ông Tuấn nói.
Sáng tạo trong thiếu thốn, cảnh giác trong từng bữa ăn
Trong điều kiện hạn chế về phương tiện, người lính trẻ và đồng đội đã phải nghĩ ra nhiều cách để bảo đảm an toàn thực phẩm. Không có thiết bị kiểm tra nguồn nước do phía Việt Nam Cộng hòa cung cấp, họ áp dụng những biện pháp rất giản dị nhưng hiệu quả.
“Chúng tôi cắt thùng phi làm bếp Hoàng Cầm cho tiện nấu nướng. Khi được cấp cá sống, chúng tôi thả thử một con vào bể nước. Nếu cá vẫn khỏe thì mới dùng nước ấy để lọc, nấu ăn. Nếu cá chết, lập tức yêu cầu đổi nguồn nước khác”, ông nhớ lại.
Những biện pháp này không chỉ được áp dụng tại trại Davis mà còn xuyên suốt 57 ngày sau đó, khi ông tiếp tục nhiệm vụ tại khu vực 3 Pleiku – một trong bảy Ban Liên hợp quân sự khu vực.
Ban đầu, phái đoàn không có gạo mà chỉ được cấp suất ăn dã chiến của lính Mỹ, gồm đồ hộp, kẹo, thuốc lá, nước trái cây. “Bất cứ thứ gì cũng phải kiểm tra kỹ. Sau này, theo yêu cầu của ta, họ mới cấp gạo, thịt, cá, rau để tự nấu”, ông kể. Khẩu phần ăn được tính toán đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt chú trọng rau xanh để giữ sức khỏe cho các thành viên phái đoàn.
Phục vụ cũng là chiến đấu
Sau gần ba ngày ở trại Davis, Nguyễn Văn Tuấn được điều chuyển về Pleiku. Hết thời hạn hoạt động của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, ông cùng đoàn trở lại Hà Nội, tiếp tục học tại Trường Trung cấp Quân nhu. “Suốt 60 ngày làm nhiệm vụ, không một ai trong phái đoàn của ta bị ngộ độc thực phẩm hay nước uống”, ông tự hào nói.
Tháng 5/1973, ông lại nhận nhiệm vụ mới: nấu ăn cho một đại đội vận tải của Cục Quân nhu trên tuyến chi viện vào miền Đông Nam Bộ. Ban ngày đơn vị ẩn nấp trong rừng, ban đêm hành quân. Địch bắn phá liên tục, nhưng nhờ tuyến đường Trường Sơn, đoàn xe vẫn vượt qua hiểm nguy.
Trước câu hỏi liệu có buồn khi tuổi trẻ phải lo việc bếp núc thay vì trực tiếp cầm súng, Đại tá Tuấn khẳng định: “Dù được phân công công việc gì, chúng tôi cũng vui vẻ, quyết tâm làm tốt”.
Ông nhắc lại lời Bác Hồ dạy cán bộ hậu cần: công việc cung cấp cũng quan trọng như chiến đấu; một hạt gạo, một viên đạn, một viên thuốc đều phải đến thẳng tay chiến sĩ. “Thấu hiểu điều đó, chúng tôi coi phục vụ chiến đấu cũng là chiến đấu. Hoàn thành tốt nhiệm vụ nào cũng đều vinh dự như nhau”.
Sau năm 1975, ông công tác tại Cục Quân nhu – Tổng cục Hậu cần, rồi chuyển sang Tổng công ty 28 cho đến khi nghỉ hưu năm 2012. Nay trở về đời sống bình dị với vườn rau, hàng cau trước nhà, người lính năm xưa coi đó là biểu tượng của hòa bình – thành quả được đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu của bao thế hệ.
Nhìn về hiện tại, Đại tá Nguyễn Văn Tuấn gửi gắm niềm tin vào lớp trẻ hôm nay, mong rằng tinh thần yêu nước, được bồi đắp qua giáo dục và lịch sử, sẽ tiếp tục được gìn giữ để đất nước vững bước trong tương lai.



