Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GẶP BÁC Ở TÂN TRÀO

Hà Nội20/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa hè năm 1945, chúng tôi lên Tân  Trào. Tôi cùng đi với anh Trường Chinh,  anh Hà Huy Giáp, và một số đại biểu đi  dự Đại hội Mặt trận. Đi trong Khu giải  phóng, thở hít không khí tự do, người thấy  nhẹ nhàng. Liên lạc dẫn chúng tôi tới một  cơ quan. Chúng tôi thấy lố nhố những anh  chị em du kích, tự vệ, mang gươm, mang  súng. Người thì đang làm nhiệm vụ canh 

* Trích trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà  Nội, 1975, tr.46-51, 54-56.

11

gác, người đang họp bàn công tác. Từ người  dân mất nước, trong tay không có một tấc  vũ khí, nay đứng trước quang cảnh ấy, cả  đoàn đại biểu đều cảm động, có người rưng  rưng nước mắt. Tôi được tin Ông Cụ đã ở  Tân Trào, nên quên cả mỏi mệt, định tiếp  tục đi ngay, vì từ cơ quan này vào trong  ấy cũng gần thôi. Nhưng một trận mưa to  sập đến. Suối dềnh lên, đường bị nghẽn.  Chúng tôi đành phải nghỉ lại đây. Suốt  đêm tôi thao thức. Hết nghĩ đến Ông Cụ,  lại ngắm nhìn những đồng chí du kích bố  trí bảo vệ đoàn đại biểu. Lắng nghe thấy  mấy đồng chí nói tiếng Tày Cao Bằng, tôi  nghĩ ngày mai vào gặp Ông Cụ, chỗ ở chắc  là còn nghiêm mật hơn thế này.

Sớm hôm sau, cơm nước xong, chúng  tôi vào Tân Trào. Tới nơi, anh Võ Nguyên  Giáp cho chúng tôi biết Ông Cụ đang chờ,

12

nhưng ốm lắm. Mấy hôm trước, bệnh tình  có vẻ nguy kịch, tưởng chết. Ông Cụ đã  một lần cho gọi anh Phạm Văn Đồng và  anh Võ Nguyên Giáp vào bàn các công  tác như có ý giối giăng. Rồi anh Giáp dẫn  chúng tôi đến chỗ Bác ngay. Qua cây đa  Tân Trào, lội một con suối, tới chân đèo  De, đi sâu vào chừng vài trăm thước. Tôi  tiến vào một nhà sàn thấp, ngạc nhiên vì  thấy việc bảo vệ gần như không có. Trong  nhà sàn bên cạnh, chỉ có mấy đồng chí phụ  trách máy vô tuyến điện.

Bước vào cái lều Bác ở, tôi rất cảm  động. Nhà trống hơ trống hoác, bốn phía  không có phên che. Ngoài chiếc máy đánh  chữ và một ít giấy, không có một thứ đồ  đạc gì khác. Bấy giờ đã vào thu, lại sau  những trận mưa liên miên, khí trời lành  lạnh, Ông Cụ ngồi xổm một mình trên sàn.

13

Tôi nhận ra ngay Ông Cụ, nhưng Ông Cụ  hom hem quá, khác hẳn đồng chí Vương  hồi trước. Ông Cụ đã để râu, tóc lốm đốm  bạc, hai má hóp lại. Đầu đội miếng vải túm  lại như mũ nồi. Mình mặc áo cộc chàm,  hai chân gầy khẳng khiu làm cho hai ống  quần soóc càng rộng. Chỉ có đôi mắt là vẫn  sáng như xưa.

Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe, hỏi về  thuốc men, Bác nói:

- Có một bà con thiểu số ở đây vào rừng  lấy thuốc lá về cho mình uống. Uống mấy  hôm nay đã đỡ.

Bác bảo mọi người ngồi. Giọng nói  không có gì đổi khác, vẫn từ tốn, đầm ấm  như trước. Sau bao nhiêu năm bây giờ  mới gặp lại Bác, tôi ngồi nghĩ liên miên,  nghĩ chuyện ngày xưa, nhớ những lời Bác  dặn dò, rồi tin Bác bị bắt, ho lao chết, rồi

14

bây giờ không ngờ lại trở về đây. Hôm ấy  tôi không nói được chuyện riêng với Bác.  Chúng tôi vào thăm Bác, và để bàn với  Bác về công việc chuẩn bị Hội nghị Trung  ương. Khi bàn công việc, Bác vẫn minh  mẫn, khẩn trương. Tôi nhớ khi ấy Thường  vụ chưa ấn định dứt khoát ngày họp của  Hội nghị Trung ương mở rộng. Bác nói:

- Nên họp ngay và cũng không nên kéo  dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng  giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến  nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội.

Một mặt Thường vụ họp, một mặt Bác  đề nghị một số đồng chí đi dự Hội nghị  Trung ương phải về ngay địa phương, nắm  lấy những ý kiến của Ban Thường vụ đem  về mà thi hành. Ngày ấy, Nhật chưa đầu  hàng Đồng minh. Bác nói: “Chỉ vài ngày  nữa là nó hàng, và hàng không điều kiện”.

15

Vài hôm nay, trong khi Hội nghị Trung  ương đang họp, chúng tôi được tin phát xít  Nhật đầu hàng.

Bác tuy ốm yếu, nhưng dự họp suốt từ  đầu tới cuối với Ban Thường vụ. Ngày 13,  14, 15-8-1945, Hội nghị Trung ương lần  thứ chín họp. Những quyết định của Hội  nghị này có một tầm quan trọng rất lớn  đối với vận mệnh của dân tộc ta.

Cuộc thảo luận ở Hội nghị Trung ương  thật là sôi nổi và hào hứng. Bàn nhiều  nhất là hai khả năng của cách mạng. Khả  năng thứ nhất là ta lấy lại được nước, nắm  được chính quyền, tức là có cương vị nói  chuyện với Đồng minh. Khả năng thứ hai  là lực lượng chủ quan của ta yếu, không  thừa được thời cơ thuận lợi mà giành lấy  chính quyền trước khi Đồng minh kéo vào -  mà Đồng minh là có Pháp ở trong, - thì

16

tức là phải đặt vấn đề đàm phán với Pháp,  đòi quyền tự do, dân chủ, nắm lấy đấy mà  tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân  dân, đẩy mạnh phong trào cách mạng hơn  nữa để tiếp tục đấu tranh với Pháp cho  đến thắng lợi cuối cùng.

Tôi nhớ khi bàn đến khả năng Pháp  có thể trở lại, có đồng chí uất quá nói: nó  vào thì cứ đánh, dù lực lượng nhỏ đến đâu  cũng đánh. Đấy là những lời tâm huyết,  biểu lộ một tấm lòng nhiệt tình yêu nước.  Nhưng khách quan mà nhìn nhận vấn đề,  thì đánh Pháp lúc ấy phức tạp là vì nó núp  sau danh nghĩa Đồng minh.

Vì điều kiện sức khỏe, Bác không dự  Hội nghị Trung ương được suốt. Nhưng  Bác góp rất nhiều ý kiến. Bác rất sáng  suốt và bình tĩnh. Bác phân tích tình hình  một cách rõ ràng và khoa học. Bác nhận

17

định cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu  dài, làm cách mạng phải chiến đấu hết keo  này đến keo khác. Trước mắt là phải nỗ  lực phát động một cao trào khởi nghĩa, đã  có Khu giải phóng rồi phải mở rộng Khu  giải phóng ra khắp nơi trong nước, dù lực  lượng còn nhỏ cũng lập Khu giải phóng,  trước khi Đồng minh vào. Tích cực thì nắm  được thời cơ. Không tích cực thì thời cơ  không chờ mình... 

Hội nghị quyết định phát động một cao  trào khởi nghĩa suốt từ Bắc chí Nam. Ai  nấy đều bừng bừng phấn khởi. Ngày nay  ta đã có một khối nhân dân đoàn kết, giác  ngộ và lớn mạnh, có một chính quyền vững  chắc, có một quân đội chiến thắng, nhưng  ngày nay nghĩ lại những ngày trứng nước  của cách mạng, ta mới càng thấy hết  những khó khăn của thời bấy giờ, mới

18

càng thấy thắng lợi ngày ấy thật là to tát.  Nhân dân ta khi ấy chưa thạo bắn súng.  Lực lượng vũ trang có vẻn vẹn vài nghìn  khẩu súng gồm rất nhiều kiểu Pháp, Anh,  Đức, Nhật, và súng kíp, súng hỏa mai của  ta, mà lực lượng địch thì hùng hậu, vũ khí  thì hiện đại, Liên Xô thắng Đức, Nhật là  một viện trợ tinh thần rất lớn, nhưng Liên  Xô xa lăng lắc. Quyết định thắng lợi của  Cách mạng Tháng Tám vẫn là do sự lãnh  đạo khôn khéo, kiên quyết của Đảng và do  lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của  nhân dân ta. Càng thấy dân tộc mình anh  dũng thật.

.....

* *

*

Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội khai  mạc ở đình Tân Trào. Bác được bầu vào

19

trong Đoàn Chủ tịch. Từ khi trở về nước,  đây là lần đầu tiên Bác tiếp xúc với một  đại hội đại biểu nhân dân. Hôm ấy, Ban tổ  chức giới thiệu Bác là Cụ Hồ Chí Minh, một  nhà lão thành cách mạng. Nhiều đại biểu  không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe thấy  tên Hồ Chí Minh bao giờ. Nhưng một số  người cũng đã thì thầm bàn tán về Bác mà  người ta gọi là Ông Ké Tân Trào. Mấy đại  biểu kháo nhau: Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy.  Hồi ấy, chưa có tục vỗ tay. Nhưng khi nghe  giới thiệu Bác, các đại biểu đều rất hân  hoan. Bác hỏi thăm sức khỏe mọi người,  niềm nở mời các đại biểu vào làm việc. Các  đại biểu vừa phấn khởi vừa bồi hồi.

Đại hội họp ở một gian bên. Gian chính  giữa triển lãm những vũ khí lấy được của  Nhật. Gian bên kia là chỗ ăn uống của đại  biểu. Suốt ngày hôm ấy, Bác điều khiển

20

Hội nghị. Đại biểu nào cũng chú ý lắng  nghe những ý kiến của Bác. Anh Trường  Chinh đọc báo cáo trước Đại hội, nêu ra  hai vấn đề lớn để Đại hội thảo luận: Tổng  khởi nghĩa và bầu Ủy ban Giải phóng dân  tộc. Ngoài ra, còn có các bản báo cáo về  phong trào công nhân của anh Hoàng Quốc  Việt, về tình hình Nông hội của anh Trần  Đức Thịnh, về văn hóa của anh Nguyễn  Đình Thi. Đoàn đại biểu nhân dân Tân  Trào đem gạo, đem bò, đem gà đến mừng  Đại hội, một ông già người Tày dắt một  con bò đến tặng. Đồng bào ta đã bị chiến  tranh bòn mót đến xương tủy, ai nấy đều  tiều tụy, rách rưới. Đáng thương nhất là  các em bé thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng  nó ở truồng tồng ngồng, theo người lớn đến  chào Quốc dân Đại hội. Bác đến gần các  cháu, chỉ vào chúng và nói với các đại biểu:

21

- Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm  sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm,  được đi học, không lam lũ mãi thế này.

Chúng tôi đều cảm động. Câu nói ấy, về  sau này Bác thường nhắc nhở luôn luôn. Quốc dân Đại hội quyết định lệnh Tổng  khởi nghĩa và bầu ra Ủy ban Giải phóng  dân tộc mà Bác làm Chủ tịch. Bác tổng kết  Đại hội lịch sử này, động viên các đại biểu  trở về địa phương nỗ lực phấn đấu, giành  lấy thời cơ thuận lợi có một không hai để  đưa cách mạng đến thành công.

Sáng ngày 17, Ủy ban Giải phóng dân  tộc ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ.  Tôi được cử đi đón Bác. Mấy hôm ấy trời  mưa, đường lội. Bác đi chân đất. Gần tới  đình Tân Trào, Bác xuống suối rửa chân.  Suối sâu, đường trơn và dốc. Thấy Bác  chưa được khỏe, tôi chạy lại đỡ, Bác gạt đi  và bảo: “Không sao, chú cứ đi”.

22

Khi Bác từ dưới suối lên, các vị trong  Ủy ban đã đứng ở trước đình chờ sẵn. Bác  bước tới và đứng vào giữa. Bác thay mặt  Ủy ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng dựng  trước đình, đọc lời tuyên thệ. Lời thề rất  ngắn, nhưng rất súc tích, như mọi câu nói,  mọi bài viết của Bác. Tôi không nhớ được  lời văn, chỉ nhớ đại ý như sau:

“Chúng tôi là những người được Quốc  dân đại biểu bầu vào Ủy ban Giải phóng  dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của  nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của  Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh  đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu  chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ  quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối  cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!”.

Giọng Bác trang nghiêm, lời thề dõng  dạc, biểu lộ cái khí phách kiên cường, dũng

23

cảm, quật khởi của dân tộc ta. Chúng tôi  thấy rạo rực trong người, và giơ tay theo  kiểu chào bình dân, hô một cách mạnh mẽ:  “Xin thề!”.

Du kích bắn mấy loạt súng chào mừng  Ủy ban Giải phóng dân tộc... 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn