Bài viết

GẶP LẠI ĐỒNG ĐỘI

Lạng Sơn02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thấm thoát gần 40 năm trôi qua, do hoàn cảnh của cuộc sống bộn bề, hơn sáu chục con người của Đại đội trinh sát C17 pháo binh Tây Nguyên ngày ấy và những đồng đội ngày đầu nhập ngũ với tôi vẫn chưa có được một lần gặp nhau đông đủ.

Năm nay, nhân sự kiện 40 năm giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh và 37 năm giải phóng Miền Nam, Trung đội trưởng trinh sát C17 mà ngày xưa chúng tôi quen gọi là Cường “liều”, ở Võng Xuyên, Sơn Tây, nay là một ông chủ xưởng mộc làm ăn khấm khá, nhận đăng cai. Hơn ba chục anh em xa gần về dự, đây là lần đông đủ nhất, mặc dù cũng chỉ được non nửa đại đội. Nhân dịp này, tôi gửi tặng mỗi đồng đội một cuốn bản thảo ghi chép về C17 những năm đánh Mỹ mà tôi cấp tốc viết trong vòng một tuần. Cuộc gặp mặt lần này có thêm vợ chồng anh Thiêm từ Sài Gòn và anh Thạch từ Gia Lai ra. Đặc biệt là sự có mặt lần đầu của Chính trị viên trưởng Vũ Văn Muống và Đại đội phó Bùi Minh Tâm sau nhiều năm bặt tin tức. Mặc dù 40 năm sau tôi và anh Muống mới gặp lại nhau nhưng chúng tôi đều nhận ra nhau ngay từ cái bắt tay đầu tiên. Anh bảo năm 1979 có vào nhà tôi ở thị xã Cao Bằng nhưng không gặp. Lúc đó anh cùng Quân đoàn III từ Căm Pu Chia hành quân cấp tốc ra chiến đấu trên đó.

Tại buổi gặp mặt lần này, anh Bùi Minh Tâm bỗng trở thành tâm điểm chú ý bởi bộ quân phục sĩ quan cấp tá của người cháu cho nom rất chỉnh tề, nhưng anh để râu dài như bô lão ngày xưa và hàm răng chỉ còn vài chiếc nên nhiều người không nhận ra. Sau lời phát biểu ngắn gọn và đấy chất lính cụ Hồ, anh tếu táo chuyển tiết mục : Ngày xưa tôi thổi sáo ngang/ đến nay răng rụng tôi chuyển sang sáo này, rồi rút cây sáo dọc ra thổi bài “Ai yêu Miền Nam” rất hay. Chỉ có điều, cái chiến công binh vận ngày 27/1/1973 hồi đó của anh thì chỉ có chúng tôi biết và nhớ đến. Anh chưa có được một tấm huy chương nào về sự kiện ấy.

Cũng tại lần gặp gỡ đặc biệt này, anh Lê Việt Cường đã huy động toàn bộ gia đình, họ hàng và đội văn nghệ quê nhà đón tiếp chúng tôi rất nồng hậu và chu đáo. Qua một số anh lớn tuổi hơn, tôi còn được biết câu chuyện tình “kỳ ngộ” . Ngày ấy, Trung đội trưởng trinh sát Lê Việt Cường và một số đồng đội cùng trang lứa được cử ra Bắc học trường sĩ quan pháo binh 400 ở thị xã Sơn Tây. Với lợi thế gần nhà, Cường “liều” liền tính chuyện vợ con. Một cô gái đã lọt vào tầm ngắm của anh. Không ngần ngại dài dòng anh hỏi thẳng cô gái rằng có muốn làm vợ của anh không, 15 phút sau trả lời nhé. Cô gái ngỡ ngàng dù rằng “tình trong như đã mà ngoài còn e”. Trong ngày cưới, đến giờ cô dâu phải xuất hiện mà mọi người hốt hoảng chẳng thấy cô đâu. Hỏi ra mới hay cô sợ anh Cường chưa chắc thật lòng yêu cô, bởi cách ngỏ lời kỳ cục đó. Đám phù rể hôm đó toàn dân trinh sát C17, nhưng họ đều phải bái phục cách hỏi vợ đầy hiệu quả của Cường “liều”

Để có thêm thông tin cho cuốn sách này, tôi trở lại Cao Bằng gặp bạn bè cùng nhập ngũ và số đồng đội C17. Người tôi tìm đến đầu tiên là Hoàng Văn Thuật. Sau khi phục viên cuối 1976, Thuật được đi Bun học nghề, về nước Thuật vào cơ quan nhà nước rồi nhanh chóng bỏ ra làm ngoài. Nhờ ham tìm hiểu, giàu óc sáng tạo nên mọi chi tiết về cơ khí, phụ tùng ô tô máy móc cậu ta đều chế được nên khá nổi tiếng và có một cơ ngơi khang trang bên dòng sông Bằng thơ mộng. Nhưng đáng quý hơn cả ở Thuật là sống có nghĩa tình và trách nhiệm với đồng đội. Thấy tôi lên, Thuật bỏ cả khách hàng để đưa tôi đi khắp nơi tìm gặp đồng đội. Trước khi đi nhậu cùng bạn bè, Thuật không quên xuống hầm nhà moi lên bình rượu quý để đem theo.

Rồi chúng tôi kéo đến nhà Nguyễn Văn Đức, một con người vẻ ngoài thô ráp, nhưng nhẹ nhàng và đa cảm. Đức vào C17 đầu năm 1974, sau chuyển về thị đội thị xã Cao Bằng, rồi phục viên chuyển sang lái xe kiếm sống. Tôi còn nhớ, sau ngày toàn thắng 30/4/1975, chúng tôi vào đóng quân tại căn cứ Đồng Dù, Củ Chi. Một hôm đến phiên tôi trực gác, ngồi trên chòi cao, nắng gắt, gió thôi hây hây, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, đại trưởng Vinh đi kiểm tra đã trèo lên lấy súng của tôi mang về. Sự kiện ấy đã trở thành đề tài hấp dẫn cho Đức viết tiểu phẩm kịch vui biểu diễn trước đơn vị… Trong lần gặp gỡ này, Đức trao tôi bản chép tay bài hát truyền thống của Trung đoàn pháo binh 40 anh hùng mà lâu nay tôi tìm mãi để đưa vào cuốn sách này. Sau nhiều năm làm nghề lái xe, nay Đức lui về trang trại, trong một khu đồi yên vắng ven dòng sông Hiến, đến nỗi buộc cô vợ chuyên gõ đầu trẻ của một trường trọng điểm trong Thành phố Cao Bằng, khi hết giờ cũng phải vào chăm lo đàn gia súc luôn nháo nhác inh ỏi ấy. Bận rộn là vậy nhưng Đức luôn hết mình vì đồng đội. Không lần nào họp mặt C17 ở Hà Nội, Thái nguyên, Hải Phòng… là thiếu Đức. Nhiều khi cậu ta vừa là người vận động, tổ chức kiêm luôn lái xe đưa anh em đi đến nơi về đến chốn.

Hôm tiếp tôi tại nhà Đức, em gái cậu ta trực tiếp cùng chồng vào bếp trổ tài chế các món ăn từ trang trại mang về. Khi nghe chúng tôi kể về thời hoa lửa, cô ấy bất ngờ kế rằng ngày trước mỗi khi nghe chiến thắng từ chiến trường là cô ta reo to và khóc. Nhiều khi sợ bạn bè bảo hâm nên cô ấy chạy ra bờ sông Bằng hét thật to và khóc cho đã. Cuối cùng cô ấy bảo rằng em thật tự hào về các anh. Nghe vậy, tôi thật ấm lòng và thầm nghĩ giá như những người lính chúng tôi được nghe nhiều hơn những tấm lòng chân thật ấy.

Tôi ngược lên Cao Bình, quê hương của huyền thoại Thạch Sanh đánh trăn tinh cứu công chúa và kinh đô 3 đời của nhà Mạc, tìm đến nhà Bùi Nguyên Văn, một trinh sát khá nhanh nhẹn trong tính toán xác định tọa độ. Có lẽ sau khi phục viên, duy nhất chỉ có Văn giữ được nghề đo đạc bản đồ và lên tới chức Đoàn trưởng điều tra quy hoạch rừng của Sở NNPTNT tỉnh Cao Bằng. Văn cũng mới xin nghỉ theo Nghị định 132 trước tuổi như tôi và quay về với ruộng sâu trâu nái. Thảo nào cả sân và trong nhà đầy thóc, cả người đẫm mồ hôi như thuở nương rẫy ở Tây Nguyên. Bữa cơm tiếp tôi Văn gọi cả 2 người em họ sát vách, cũng đều lính pháo binh 40 và lính Tây nguyên xưa. Cả Đàm Thanh mà ngày xưa chúng tôi gọi là Thanh “thầy cúng” bởi cậu ta phán trúng thời tiết trong nhiều lần đi trinh sát. Khi về hưu với lon Đại úy, Thanh nhiệt tâm dành phần còn lại cho công tác xã hội và chính quyền xã mấy chục năm qua.

Tuy không cùng C17, nhưng các bạn cùng trang lứa cùng nhập ngũ với tôi ngày ấy đều là lính của E40, trong đó có Vương Bá Hùng. Sau khi phục viên, chuyển ngành,cả tôi và Hùng được cử về Hà Nội đào tạo cơ bản. Tôi Cao Đẳng Thanh vận (Trường Đoàn Trung Ương), còn Hùng là cao đẳng Pháp lý, sau đổi thành Đại học Luật. Hai trường đối diện và cách nhau một con đường “đau khổ” như đường Trường Sơn. Vì vậy không tuần nào là chúng tôi không gặp nhau, chia nhau từng điếu thuốc, từng chút quà từ trên quê gửi về và cùng nhau lượn lờ xem Hà Nội trong ngày nghỉ học. Ra trường, tôi về Tỉnh Đoàn công tác, Hùng về Tòa án huyện rồi lên Tòa tỉnh và bây giờ nghỉ hưu thì mở văn phòng Luật sư Vương Hùng.

Theo đề nghị của tôi, Thuật đã đưa tôi đến thăm Việt, Vũ, Sơn, cũng lính E40. Cả ba đứa đều là lính 14,5 ly, bị thương nặng trong chiến dịch xuân hè 1972 ở Kon Tum và phải ra Bắc ngay cuối năm đó. Nghe các bạn kể lại lúc bị thương và quá trình vượt Trường Sơn ra Bắc điều trị vết thương, tôi mới thấu hiểu thêm nỗi chuân chuyên của những đồng đội thiếu may mắn, không chỉ trong chiến tranh mà ngay cả trong thời bình.

Việt kể trong trận đánh phía Nam Kontum, khẩu đội 14,5 ly của Việt bị trúng bom, 3 đứa chết, còn lại bị thương cả, Việt bị khá nặng vào đầu, tay, chân dẫn đến teo cơ và phải cáng ra Bắc điều trị. Trong thời gian điều dưỡng, Việt đã học được nghề cắt may. Khi phục viên, Việt mở hiệu may kiếm sống, rồi lấy vợ, sinh con. Vợ Việt là cô bạn cùng phố và cùng học cấp II với tôi.

Còn Sơn thì bị địch phục kích, mặc dù đã bắn trả quyết liệt, diệt được một số tên nhưng vẫn bị đạn địch găm thẳng vào đùi, đứt động mạnh chủ nên bước thấp bước cao và tọp đi trông thấy. Bù lại Sơn giỏi tính toán, không sống nhờ bao cấp, lập doanh nghiệp xây dựng, tậu được khá nhiều nhà đất và sống đàng hoàng nhưng kín đáo, khiêm nhường. Vũ thì bị thương nhiều chỗ, nặng nhất là vào đầu, sống bằng nghề cửu vạn nặng nhọc. Vừa rồi các tổ chức hảo tâm hỗ trợ được 30 triệu để cậu ta xây một căn nhà cấp 4 nhỏ thó và nằm sâu trong mộ hẻm ngõ khó tìm. Ấy vậy mà Vũ cũng nuôi được hai con ăn học nên y\người…

Trở lại Cao Bằng lần này, tôi có ý tìm hiểu về hoàn cảnh hy sinh của Đinh Việt Trung, người bạn thân thiết mà tôi đã kể ở trên. Nhà Trung vẫn chỗ cũ, nhưng là một căn nhà xập xệ, cũ nát, một ban thờ và di ảnh Trung mờ ảo, nguội lạnh và tạm bợ. Bố Trung vẫn còn sống với tuổi gần chín mươi, cụ nghẹn ngào không nói nên lời khi biết tôi từ xa đến thăm nhân dịp 65 năm kỷ niệm ngày 27/7. Gạt nhanh nỗi lòng trắc ẩn, tôi bảo cụ cho xem giấy báo tử của Trung thì mới vỡ ra rằng, Trung đã tới chiến trường, vào đơn vị bộ binh sư 10, tham gia trận Đắc Tô, Tân Cảnh và hy sinh ngày 29/4/1972, ngay cạnh đường 14. Hóa ra ngày đó chúng tôi rất gần nhau mà không biết, như vậy tin đồn Trung hy sinh do trúng B52 trên Trường Sơn là sai. Gần đây gia đình Trung mới biết được phần mộ và đưa hài cốt Trung từ Kon Tum về.

Mừng quá, tôi liền tìm đến nghĩa trang liệt sĩ Thanh Sơn để thăm viếng Trung.Một mình trong nghĩa trang hoang vắng, nhưng không hiểu sao tôi lại nhanh chóng tìm được mộ Trung.Bất ngờ hơn, ngay cạnh mộ Trung lại là mộ Đàm Việt Hùng, cũng là bạn cùng phố, cùng nhập ngũ. Khi vào bộ đội Hùng được chọn đi huấn luyện thành cán bộ khung nên vào Nam sau tôi. Hùng là cán bộ một đơn vị bộ binh, trong trận truy đuổi địch chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, Hùng bắt sống được tên Chuẩn tướng ngụy tại sân bay Thành Sơn. Nó đánh rất hăng, nhiều chiến công nhưng không chịu làm báo cáo thành tích mà đơn vị xây dựng đề nghị phong Anh hùng. Thế rồi trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979, Trung úy Đàm Việt Hùng đã ngã xuống ngay trên quê hương mình, tại mặt trận Hà Quảng. Sự “gặp gỡ” như xếp đặt của định mệnh sau 40 năm giữa tôi với hai người bạn ấy khiến tôi thao thức nhiều đêm

Bên mộ Trung và Hùng tại Cao Bằng

Sáu năm làm lính trinh sát pháo binh C17 giữa chiến trường mịt mùng khói lửa và bao la xanh của Tây Nguyên ngày ấy, nhiều khi cứ ngỡ chỉ như một sân trường thưở nào, khiến sui tôi gặp được khá nhiều người quen biết trên các cung đường ra trận. Đó là lần gặp thày Minh, chủ nhiệm lớp 10B của tôi, trong lần đi đánh Kon Rốc đầu năm 1974. Thày đi sau tôi hai năm, vào một đơn vị bộ binh của Trung đoàn 66. Thày trò gặp nhau giữa chiến trường là điều hiếm gặp. Sau ngày giải phóng, tôi nghe tin thày đã hy sinh.Nông Hòa, người Nà Cạn, lính trinh sát E66 mà tôi đã gặp trong lần đi trinh sát Đức Lập, Đắc Lắc tháng 2/1975, cùng đơn vị với thày Minh cho biết, một lần thày bị sốt rét, người ta đưa vào viện và không biết tin gì về người thày ấy nữa.

Lần đi hội diễn văn nghệ ở H3 đầu 1993, trên báo động có biệt kích thâm nhập, khiến chúng tôi phải bỏ hội diễn đi làm nhiệm vụ.Trên đường đi gặp Hiệp, người cùng phố, bạn học em trai tôi. Nhìn nó thất thểu, dặt dẹo, tôi đoán ngay là mới vào chiến trường, tôi san sẻ cho nó ít lương khô, đường sữa. Sau này phục viên, không hiểu vì sao nó có vẻ bất mãn, sống vật vờ, gia đình ly tán. Thấy vậy, anh em tôi tìm cách giúp nó có việc làm ở Hà Nội. Nhưng thời gian sau Hiệp bỏ về, rồi chết trong đơn côi, bệnh tật.

Trở lại Cao bằnggặp mặt đồng đội lần này, tôi được tin một số đồng đội đã mất. Trong đó có Công ở Cao Bình, Liên ở Thanh Sơn, Đàm Vượng ở Sở Văn hóa, Đàm Sáo ở Nà Cạn, Nông Văn Bối ở Trùng Khánh… Sự ra đi quá sớm của các bạn, tôi thầm nghĩ chắc có phần ảnh hưởng bởi những năm tháng chiến đấu gian khổ, ốm đau bệnh tật từ chiến trường xưa để lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
GẶP LẠI ĐỒNG ĐỘI | Câu chuyện thời hoa lửa