Gặp lại một thời “xẻ dọc Trường Sơn”
Tháng 4 năm 2026, trong một chuyến về nguồn tại huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An, chúng tôi – những đoàn viên Đoàn khoa Sư phạm – có dịp gặp gỡ ông Nguyễn Văn Sơn. Ông năm nay 80 tuổi, dáng người gầy gò, nước da ngăm đen, đôi bàn tay chai sần bởi năm tháng. Thế nhưng, đôi mắt ông vẫn sáng, giọng nói vẫn vang vọng như chưa từng trải qua nửa thế kỷ chiến tranh và hòa bình.
Tháng 4 năm 2026, trong một chuyến về nguồn tại huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An, chúng tôi – những đoàn viên Đoàn khoa Sư phạm – có dịp gặp gỡ ông Nguyễn Văn Sơn. Ông năm nay 80 tuổi, dáng người gầy gò, nước da ngăm đen, đôi bàn tay chai sần bởi năm tháng. Thế nhưng, đôi mắt ông vẫn sáng, giọng nói vẫn vang vọng như chưa từng trải qua nửa thế kỷ chiến tranh và hòa bình.
Ông Sơn là một trong số ít những cựu thanh niên xung phong còn sống tại địa phương. Ông từng tham gia mở đường Trường Sơn giai đoạn 1965–1970 – những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Người thanh niên lên đường với trái tim đỏ lửa
Ông Sơn kể: “Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo ở xã Hưng Lợi, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Bố tôi hy sinh trong kháng chiến chống Pháp khi tôi mới lên 3 tuổi. Mẹ tôi một mình nuôi 5 anh em. Lớn lên giữa bom đạn, tôi thấm thía câu nói: ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’.”
Tháng 6 năm 1965, tiếng loa phát thanh từ xã vang lời kêu gọi thanh niên xung phong nhập ngũ, tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam. Ông Sơn khi đó mới 19 tuổi, chưa một lần yêu, chưa kịp tròn vai trụ cột gia đình, nhưng đã viết đơn tình nguyện. Ông bảo: “Tôi nhớ mẹ khóc rất nhiều, nhưng mẹ nói: ‘Con đi đi, giữ nước là việc lớn, mẹ còn các em’.”
Ngày lên đường, cả xã tiễn 12 thanh niên. Chiếc khăn quàng đỏ trên vai, chiếc ba lô vải thô, vài lạng gạo, một bộ quần áo xanh rêu – đó là tất cả hành trang. Không ai hứa hẹn ngày trở về.
Sống và chiến đấu trên tuyến lửa Trường Sơn
Đơn vị của ông Sơn – Đại đội 317 Thanh niên xung phong – được biên chế làm nhiệm vụ mở đường, san lấp hố bom, kéo pháo và vận chuyển hàng hóa dọc tuyến đường Trường Sơn – huyết mạch nối hậu phương lớn với tiền tuyến lớn.
“Đường không bằng bom đạn, nhưng chúng tôi vẫn đi”
Ông Sơn nhớ lại: “Mỹ thả bom B52 suốt ngày đêm. Có đợt, tuyến đường qua đèo Mụ Giạ bị cắt đứt liên tục. Cứ đêm xuống, chúng tôi lại xung phong ra san lấp. Tay đào, tay đắp, lưng mang gạo, vai vác đạn. Có những ngày đói đến mức phải ăn lá rừng, uống nước suối. Sốt rét rừng hành hạ, nhưng không ai bỏ cuộc.”
Một kỷ niệm ám ảnh ông nhất là Tết Mậu Thân 1968. Đơn vị nhận lệnh phải vận chuyển 2 tấn đạn dược vào chiến trường Quảng Trị trong 48 giờ. Trời đổ mưa tầm tã, đường lầy lội, bom đạn dày đặc. Trong đoàn 35 người, có 5 đồng đội của ông vĩnh viễn nằm lại trên đèo. Ông Sơn bị mảnh đạn găm vào chân trái, phải băng bỏ tạm và tiếp tục hành quân.
Tiếng hát giữa chiến trường
Dù khốc liệt, ông Sơn bảo “thanh niên xung phong lúc nào cũng có tiếng hát”. Những đêm hành quân, họ hát bài “Cô gái mở đường” rộn rã. Có lúc hát “Bài ca bên cánh võng” để vơi đi nỗi nhớ nhà. Tiếng hát át cả tiếng bom, tiếp thêm sức mạnh để những bàn chân không mỏi.
Ông Sơn khoe với chúng tôi một kỷ vật quý: chiếc lược làm từ thân máy bay rơi – tự tay ông đẽo gọt để gửi tặng người yêu ở hậu phương. Nhưng rồi ông không bao giờ gặp lại người con gái ấy. Qua thư từ, ông biết cô đã theo đoàn thanh niên xung phong khác vào Nam và hy sinh trong một trận càn ở Quảng Nam năm 1970.
Sau chiến tranh – Người lặng lẽ về với đời thường
1975, đất nước thống nhất. Ông Sơn rời quân ngũ trở về quê với một bên chân đi hơi khập khiễng, trong người còn ba mảnh đạn chưa thể lấy ra. Ông được cấp sổ thương binh hạng 2/4, nhưng chưa một lần đòi hỏi hay kêu ca.
Ông cưới vợ muộn năm 1978 – một người phụ nữ cũng từng tham gia du kích làng. Hai ông bà sống trong ngôi nhà nhỏ, làm nông, nuôi 4 người con. Có thời kỳ khó khăn sau đổi mới, cả nhà chỉ ăn khoai, ăn sắn qua bữa, nhưng ông không nhận thêm trợ cấp. Ông bảo: “Các bạn tôi đã hy sinh, họ không có cơ hội sống, vậy tôi sống thay phần họ. Tôi không thể đòi hỏi thêm gì.”
Hai con trai ông sau này lần lượt lên đường nhập ngũ, nối tiếp truyền thống gia đình. Một người đã phục viên, một người đang công tác tại Bộ đội Biên phòng.
Ông Sơn hôm nay – “Người giữ lửa” cho thế hệ trẻ
Ở tuổi 80, ông Sơn vẫn là thành viên tích cực của Hội Cựu thanh niên xung phong xã. Ông thường xuyên đến các trường học kể chuyện lịch sử, tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi các gia đình liệt sĩ.
Khi gặp đoàn sinh viên chúng tôi, ông xúc động nói:
“Các cháu sinh ra trong hòa bình, không biết mùi bom đạn, nhưng hãy nhớ rằng hòa bình không tự nhiên đến. Nó được trả bằng xương máu của cả một thế hệ. Các cháu học giỏi, sống tử tế, có lý tưởng – đó chính là cách báo đáp lớn nhất.”
Ông dặn thêm: “Đừng chạy theo những thứ phù phiếm, đừng lãng phí thời gian vô bổ. Thời của cháu có internet, xe máy, trường lớp khang trang – thời của ông chỉ có rừng già, muỗi rừng và bom Mỹ. Hãy trân trọng và tận dụng.”
Bài học từ “thời hoa lửa” cho thanh niên hôm nay
Qua câu chuyện của ông Nguyễn Văn Sơn – một “báu vật sống” của thời hoa lửa – mỗi đoàn viên, hội viên chúng tôi rút ra nhiều bài học sâu sắc:
1. Lòng yêu nước không phải lời nói suông: Yêu nước là hành động, là sẵn sàng hy sinh cái nhỏ để bảo vệ cái lớn. Cũng như hôm nay, yêu nước có thể là học tốt, lao động giỏi, không chạy theo lối sống thực dụng.
2. Tinh thần vượt khó và ý chí thép: Giữa chiến trường, không ai lùi bước. Giữa đời thường, cũng không ai được phép gục ngã trước khó khăn.
3. Tri ân người có công – đạo lý ngàn đời: Cần tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động như “Câu chuyện thời hoa lửa” để mỗi bạn trẻ có cơ hội gặp gỡ, thấu hiểu và biết ơn.
4. Sống có lý tưởng và trách nhiệm: Không chỉ nghĩ cho riêng mình. Hạnh phúc đích thực đến từ việc sống có ích cho gia đình, cộng đồng và Tổ quốc.
Kết luận – Chặng cuối, nhưng ký ức còn mãi
Chặng 4 của “Câu chuyện thời hoa lửa” có thể khép lại một chương trình phát động viết bài, nhưng ký ức về những nhân chứng như ông Nguyễn Văn Sơn sẽ còn sống mãi trong trái tim thế hệ trẻ Trường Đại học Tây Nguyên.
“Hoa lửa có thể tàn, nhưng ký ức và lòng biết ơn thì bất diệt.”


