Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GẶP LẠI NGUỜI THƯƠNG BINH ẤY SAU 36 NĂM

Đoạn hồi ức kể về chiến sĩ trinh sát Trần Xuân Nựu, quê huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), bị thương nặng khi dẫm phải mìn zíp trong một chuyến trinh sát ở đường 19, khu vực Đèo An Khê (Bình Định) cuối năm 1971. Trong hoàn cảnh vô cùng nguy hiểm giữa các chốt địch, đồng đội đã thay nhau cáng anh vượt rừng, lội suối suốt hai ngày đêm để đưa về trạm phẫu. Do nhiễm trùng nặng, anh phải cắt bỏ toàn bộ chân phải đến khớp háng nhưng được cứu sống trong gang tấc. Ba mươi sáu năm sau, trong hành trình “đi tìm

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đó là anh Trần Xuân Nựu, người thương binh cụt một chân. Hiện nay anh đang sống với vợ con tại xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. (Điện thoại: 0393.570.223)

Gần cuối năm 1971, trong một lần đi trinh sát các mục tiêu địch trên đường quốc lộ số 19 tại đèo An Khê, tỉnh Bình Định không may anh đạp phải một quả mìn hộp zíp. Nói “không may” là vì trên một lối mòn, từ phía Nam, tiếp cận lên lề đường, ba đồng chí đã đi trước, tôi đi thứ tư và sau tôi là đồng chí Trần Xuân Nựu. Anh dẫm phải quả mìn ngay trên lối mòn đã có bốn người đi trước. Mìn hộp zíp, do Pháp chế tạo. Trái mìn hình tròn lớn hơn cái đít chen ăn cơm, giống như cái hộp zíp đánh răng thời kỳ chống Pháp đã được cấp cho bộ đội để đánh răng. Có lẽ vì vậy mà ta gọi là mìn hộp zíp (gọi là hình tượng). Vỏ của trái mìn zíp bằng nhựa, màu xanh nhạt có tác dụng chống máy dò mìn. Thuốc nổ là một hợp chất nhiều thành phần, chủ yếu là TNT. Cấu tạo theo nguyên lý đạp nổ. Kim hỏa gắn liền với tâm miếng mica hình lõm, đàn hồi. Dưới kim hỏa là hạt nổ.

Mìn zíp có độ chống ẩm cao, chôn dưới mặt đất khoảng 1cm, nhiều chục năm vẫn còn tác dụng. Cây cỏ mọc lên rất khó dò phát hiện. Mìn zíp chỉ có tác dụng loại đối phương khỏi vòng chiến đấu, vì dẫm phải chỉ cụt chân. Song nếu vết thương không được xử lý kịp thời, có khi dẫn tới tử vong.

Dọc hai bên đường 19 và xung quanh các điểm chốt của địch ở đèo An Khê đã được rải mìn zíp thành một tuyến trong phạm vi 15-20m từ vệ đường trở ra. Ở đây quân ta thương vong do mìn chiếm tỷ lệ cao.

Trái mìn nổ đúng vào lúc giữa trưa, cách mặt đường khoảng 10 đến 15 mét. Xung quanh có các cứ điểm thuộc sườn phía Nam của dẫy núi Ông Bình; phía Tây là chốt Mâm Xôi (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra), phía Đông là cứ điểm của một đại đội địch đóng ở đồi Hòn Kiềng (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra)… Các lô cốt với những họng súng đen ngòm, trong tầm bắn có hiệu quả của binh lính Đại Hàn luôn trong tư thế sẵn sàng nhả đạn… Tuy nhiên, trái mìn nổ gần sát mép đường giữa buổi trưa trời nắng gắt, đã không làm cho bọn địch chú ý.

Bàn chân phải của Nựu trái mìn tiện đứt hai phần ba. Không có sẵn dao kéo để chặt đứt luôn phần còn lại, chúng tôi phải gấp bàn chân anh lại, xé áo bó lại cho anh. Một cuộn băng cá nhân không thể ngăn được dòng máu đang xối xả phun ra. Bốn anh em thay nhau cõng anh ra khỏi những họng súng của địch xung quanh đang chĩa vào mình. Tôi động viên Nựu:

- Ở đây gần địch, cậu cố gắng chịu đựng, đừng la to, chúng nó nghe thấy. Bọn mình sẽ đưa cậu về đơn vị!...

Máu ra nhiều quá. Khuôn mặt Nựu trông nhợt nhạt. Hai đồng chí trinh sát thay nhau cõng Nựu ra khỏi tầm ngắm của các chốt địch; Kiên đi trước dò mìn, tôi đi sau cảnh giới và nhắc Lê Anh Kiên:

- Cậu dò cẩn thận. Nếu dẫm phải mìn nữa , chết, chôn cất cậu ở đây thì dễ, còn bị thương thì không còn ai để khiêng cậu nữa đâu nhá!

- Thủ trưởng cứ yên tâm! – Kiên tự tin trả lời tôi. Anh dò cẩn thận, từng bước vượt qua tuyến mìn của địch ở ven đường.

Nựu đã bị ngất mấy lần, vì mất máu nhiều. Khi tỉnh dậy, anh rên la và nói qua hơi thở:

- Tôi chết mất, các đồng chí cứ để tôi lại đây, đừng khiêng nữa!... Vừa dứt lời anh lại mê man. Tôi cúi xuống ghé tai vào ngực: tim vẫn còn đập. Tôi động viên và thúc giục tổ trinh sát khiêng tiếp, không nghỉ để rút ngắn thời gian về trạm phẫu, hy vọng cứu sống được Trần Xuân Nựu.

Ban đêm, rừng kín mít, đất đá lởm chởm, không sao đi được. Đốt đuốc thì địch trên các chốt phát hiện, chúng tôi phải lấy những khúc gỗ mục có chất lân tinh, cho một người đi trước soi đường để tiếp tục khiêng Nựu về căn cứ. Nhưng cuối cùng cũng phải dừng lại ở đầu nguồn của suối Đồng Tre, một nơi kín đáo, an toàn. Từ đây về căn cứ phải mất hơn một ngày đường, phải vượt qua đỉnh Hòn Giác cao trên 300 mét so với mực nước biển và phải vượt qua những đồi tranh trống trải.

Đêm đó, mấy anh em không sao ngủ được. Lo lắng lớn nhất là không biết Nựu có “qua khỏi” đêm nay không. Mau sao trời mau sáng để rút ngắn được thời gian đưa nựu về trạm phẫu càng sớm càng tốt. Những cơn gió thổi qua lay động rừng cây nghe xào xạc. Một quả bom vướng nổ gần mấy anh em giật mình. Vùng này địch đã cho máy bay rải bom vướng nổ. Một quả “bom mẹ” khi rơi xuống hàng trăm “bom con” bung ra. Mỗi “bom con” chỉ bằng trái cam, có màu xanh lá cây, bốn góc bung ra bốn sợi dây vướng như những sợi chỉ dù, cùng màu xanh rất khó phát hiện. Thỉnh thoảng những luồng gió mạnh thổi qua hoặc thú rừng vướng phải làm cho bom nổ. Vì vậy nơi đây nghe tiếng bom bổ suốt ngày đêm.

Sáng hôm sau trời rét lại mưa lất phất. Không nấu cơm được, mấy anh em ăn gạo sấy, uống nước lã, khiêng Nựu vượt qua được Hòn Giác, thì mọi người hầu như đã kiệt sức. Đến đây được một nửa đường về căn cứ và có thể đốt lửa đun nấu được rồi, chỉ cần cảnh giác máy bay phát hiện khói mà thôi. Ưu tiên số một lúc này là nước sôi để pha cho Nựu một ly sữa. Nói đến sữa, Kiên sực nhớ: hộp sữa Ông Thọ được cấp cho tổ trinh sát khi đi công tác, lúc lấy cuộn băng cá nhân để băng vết thương cho Nựu, Kiên lại quên ở suối Dầu, phía Nam đường 50m. Không có sữa để pha cho Nựu , còn một ít gạo sấy, chúng tôi cho vào cái hăng gô nấu cháo và bón cho Nựu từng thìa cháo loãng không đường, không muối. Đã hai ngày không ăn, vết thương lại mất nhiều máu, bốc mùi hôi, nhiều lần Nựu mê man, bất tỉnh… Sau hai ngày trèo đèo, lội suối, cuối cùng chúng tôi cũng khiêng anh về đến trạm phẫu của tiểu đoàn.

Vết thương nơi chân anh bị nhiễm trùng. Các bác sỹ đã phải hai lần tháo ở mắt cá chân và đầu gối. Song cũng không kịp chặn vết thương bị hoại tử cứ “lép bép” ăn dần lên phía trên đầu gối. Cuối cùng phải tháo đến khớp háng. Đây là khớp cuối cùng của đôi chân.

Các bác sỹ cho biết, nếu chậm trễ từ 15 đến 20 phút nữa là hết phương cứu chữa. Chúng tôi xa nhau từ ngày ấy. Ba mươi sáu năm đã trôi qua. Lòng tôi nuôi một hy vọng là sẽ gặp lại anh trong một ngày nào đó. Ba mươi sáu năm rồi, cuộc đời của một con người có biết bao thay đổi.

Sau ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Song lại xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Áo chiến chinh chưa rũ sạch bụi chiến trường, người lính lại khoác ba lô, vác súng lên vai ra trận. Tôi vẫn chưa tìm được anh.

Trong “Cuộc trường chinh tìm đồng đội” của nhân dân cả nước, một trong những đồng đội cũ đã găn bó một thời, tôi nhớ ngay đến Trần Xuân Nựu, người sỹ quan tác chiến, đã để lại một phần cơ thể trên chiến trường cách đầy 36 năm, hiện giờ đang ở đâu? Cuộc sống như thế nào? Ý định tìm lại người thương binh ấy lại thôi thhúc tôi.

Hồi đó, cán bộ các cấp hầu như nhớ thuộc lòng cấp dưới do mình quản lý. Đến nay, tôi còn nhớ, tên anh là Trần Xuân Nựu, quê ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Tuy không nhớ ở xã nào, song hy vọng sẽ có ngày tìm gặp được anh.

Tháng 11 năm 2006, trong một chuyến “xuyên Việt” đi tìm đồng đội, tôi về huyện Nghi Xuân và được người ta cho biết anh đang ở xã Xuân Lam.

Mừng quá, tôi tìm đến ngay nhà anh. Đứng trước ngưỡng cửa, tôi thật ngỡ ngàng trước người thương binh với nét mặt già phải đến cả chục năm trước tuổi. Từ nhà trong, chân cà thọt anh bước đến. Sau giây phút xúc động, anh thốt lên:

- Anh Hồng đó phải không? Mấy chục năm nay tôi cứ dò tìm tin tức về anh. Anh đã sinh ra tôi lần thứ hai, tôi quên sao được!...

Thật không ngờ, ba mươi sáu năm đã trôi qua, anh sống trong đau đớn về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, vậy mà khi gặp lại, trong giây lát anh vẫn còn nhận ra tôi. Nếu như gặp nhau ngoài đường chắc chắn tôi sẽ không nhận ra anh.

Vui mừng xúc động, anh giành thời gian nói chuyện với tôi rất nhiều. Cũng phải, ba mươi sáu năm, một con người năng động hoạt bát như anh có biết bao nhiêu chuyện muốn nói, muốn giãi bày với tôi. Giây phút gặp nhau quá ngắn ngủi, làm sao chuyển tải hết được những điều diễn ra trong cuộc sống của quá khứ và hiện tại của gia đình người thân và bạn bè xung quanh anh.

Trước khi vào miền Nam chiến đấu, anh chị đa có với nhau một cháu gái, đặt tên là Thủy. Sau ngày từ chiến trường trở về, chị sanh cho anh cháu thứ hai đặt tên là Chung. Hai cái tên của hai giai đoạn ghép lại (Thủy – Chung) cũng đủ nói lên mối tình của người hậu phương với tiền tuyến.

Chị ở nhà thay anh làm tất cả mọi việc nặng nhọc của một thời “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang” tay cày, tay súng, bền gan chờ đợi ngày đoàn tụ. Ở chiến trường anh là một quân nhân mặt đối mặt với quân thù nơi gian khổ ác liệt nhất. Anh đã để lại một phần cơ thể nơi ấy.

Tôi nói với anh để làm dịu những đau thương mất mát:

- Cậu bây giờ đã là “ông ngoại”, có một mái ấm, trong đó có đầy đủ vợ, chồng, con, cháu. Đó cùng là một phần bù đắp những hy sinh mất mát. Đồng đội của chúng ta còn biết bao nhiêu người vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường, không được hưởng niềm vui trọn vẹn như ngày hôm nay… Nếu như ngày đó, trái mìn đó, cậu không lãnh đủ thì rất có thể mình hoặc đồng chí khác cũng mang thương tật như bây giờ, hoặc nằm lại vĩnh viễn nơi ấy. Trong chiến tranh mọi việc đều có thể!...

Anh cười sảng khoái:

- Xin cảm ơn các anh đã cứu sống tôi. Cho đến giờ tôi vẫn nói với các cháu: “Anh và các đồng chí trinh sát đã cứu sống bố, bây giờ mới có các con đó!”.

Thế là trong chuyến “đi tìm đồng đội” lần này tôi đã toại nguyện, đã tìm được anh, người đồng chí, người bạn chiến đấu, đã chhia ngọt, sẻ bùi ở một chiến trường khó khăn ác liệt nhất - Mặt trận đường 19.

Chia tay anh lúc hoàng hôn sắp buông xuống, bên kia cánh đồng, đối diện nhà anh, từng đàn cò trắng bay về đậu trên những lũy tre xanh ở một vùng quê yên tĩnh. Lòng tôi cảm thấy lâng lâng…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
GẶP LẠI NGUỜI THƯƠNG BINH ẤY SAU 36 NĂM | Câu chuyện thời hoa lửa