GẶP LẠI NGƯỜI TÔI MANG ƠN CỨU MẠNG
Năm 1955, trên đường về công tác tại Chăm-pa-xắc (Lào), tác giả bị dân làng La-ve nghi là gián điệp do không có giấy tờ và không đi theo tuyến giao liên bí mật. Trong lúc nguy hiểm, suýt bị giao nộp cho địch hoặc xử tử, chị Bua – người quen cũ thời kháng chiến – kịp nhận ra và minh oan cho ông. Nhờ đó, ông được dân làng tin tưởng, bảo vệ và tiếp tục hành trình. Nhiều năm sau, khi trở lại Chăm-pa-xắc năm 1997, ông gặp lại chị Bua trong xúc động. Câu chuyện thể hiện tình nghĩa sâu nặng, sự gắn bó
Giữa năm 1955, tôi được giao nhiệm vụ làm chuyên gia giúp Tỉnh ủy bí mật Chăm-pa-xắc. Từ cơ quan Khu ủy Hạ Lào tại tỉnh Xa-ra-van, tôi đi theo đường giao liên mật chuyển tiếp qua từng bản đã bố trí trước để về Chăm-pa-xắc.
Trên đường về đến Tà-mê-xẳng-thong tôi gặp Phò Vạ, Ủy viên Mặt trận tỉnh đang trên đường về cơ quan khu. Vì sợ tôi đi theo đường liên lạc qua từng bản thì không về đến cơ quan bí mật của Huyện ủy Pạc-xoòng trước lúc trời tối, nên Phò Vạ đã cho đồng chí bảo vệ dẫn đường đưa tôi về thẳng Pạc-xoòng, không qua liên lạc từng bản.
Độ 5 giờ chiều, đồng chí bảo vệ đưa tôi đến Phạ-nuỗn-nhày và giao tôi cho một cụ già đang giữ nương, nhờ ông ta đưa tôi đi gặp Huyện ủy, rồi đồng chí vội quay lại.
Tôi ngồi ven rừng chờ các đồng chí Huyện ủy và đồng chí Tấn là chuyên gia ta giúp bạn. Không ngờ hôm đó các đồng chí đều đi cơ sở, không có ai ở cơ quan, ông già phải báo cho cơ sở bản Phạ-nuỗn-nhày ra đón tôi. Ông bị điếc nên lúc chiều không nghe rõ lời giới thiệu của anh bảo vệ về tôi, nhưng nghĩ rằng tôi là cán bộ nên ông ta cứ nhận.
Trời sắp tối mới thấy mấy người dân làng ra gặp tôi. Vì chưa biết nhau, lại không có sự giới thiệu rõ ràng, tôi lại đến đây không qua con đường giao liên bí mật chuyển bản, khi hỏi ông già thì ông già cũng chẳng biết gì hơn, nên họ nghi ngờ tôi là người của địch giả danh bộ đội Việt Nam. Vì nghi ngờ như vậy, nên họ không tin khi tôi tự giới thiệu mình là bộ đội Việt Nam được phân công về giúp tỉnh Chăm-pa-xắc, đi ngang qua đây muốn vào gặp đồng chí Tân. Họ trả lời: "Quân đội Việt Minh và Pa-thét Lào đều đã rút về Sầm Nưa, không còn ai ở đây. Đây là vùng kiểm soát của chính quyền Vương quốc, mày là Việt Minh, tao phải bắt mày nộp lên Pạc-xoòng cho quan lớn!". Mặc cho tôi giải thích thế nào họ cũng không nghe, mà tôi thì chẳng có một thứ giấy tờ hoặc một cơ sở nào để họ tin mình.
Dân làng kéo đến mỗi lúc một đông. Họ bố trí canh gác cẩn thận. Họ bàn tán sôi nổi, nhưng họ không nói tiếng Lào mà nói bằng tiếng bộ tộc La-ve, nên tôi chẳng hiểu họ nói gì. Đã 8 giờ tôi chưa có gì vào bụng, nhưng nỗi lo canh cánh làm tôi chẳng cảm thấy đói. Càng về sau, dân làng hình như chia làm hai phái tranh cãi quyết liệt quanh đống lửa. Thỉnh thoảng họ lại liếc nhìn tôi, lục soát chiếc ba lô tư trang của tôi như để dò xét, phỏng đoán, tìm ra chứng cứ...
Cuối cùng, tôi sực nhớ, tại vùng này còn có chị Bua. Hình như chị không đi tập kết mà vẫn ở lại bám trụ theo lời kể của một chị ở cơ quan Khu bộ. Chị Bua vốn quen thân với tôi từ năm 1950, khi tôi đang phụ trách cơ sở ở vùng căn cứ Át-tô-pơ. Vì vậy, tôi đề nghị bà con dân làng cho tôi được gặp chị Bua. Bà con dân làng đưa mắt nhìn nhau rồi một ông già trả lời tôi rằng: "Xảo Bua là Ít-xa-la, nó đi theo Sỉ-thon kéo nhau lên Sầm Nưa rồi, không còn ở đây. Chúng tao chẳng còn quan hệ gì với nó nữa!".
Nghe nói thế, tôi hoàn toàn thất vọng, chẳng biết xoay xở ra sao, đành ngồi chờ quyết định cuối cùng của dân làng... Liền sau đó, tôi bỗng thấy mọi người giục số thanh niên đi khuân rất nhiều củi chất thành đống. Họ đốt đống củi thành ngọn lửa to trước mặt tôi, sáng cả một góc nương. Trời về đêm, ở độ cao trên 1.000 mét giữa cao nguyên Bô-lô-ven mà người tôi nóng toát mồ hôi. Tôi chẳng đoán được ý đồ của dân làng sẽ xử lý tôi như thế nào. Bỗng một người phụ nữ đứng lấp ló phía sau dân làng chạy vội ra ôm chầm lấy tôi kêu to: "Ôi! Đúng là Khăm Xỉ (tên Lào của tôi do một bà mẹ nuôi người Lào đặt cho lúc ở Át-tô-pơ), cục vàng của chúng ta đây! Đúng là người của bên ta rồi bà con dân làng ơi! Tý nữa thì nó chết oan rồi! Hay quá! Vui quá! Em ơi! Khăm Xỉ ơi...!".
Tôi bàng hoàng như tỉnh cơn mê khi nhận ra chị Bua. Tôi cũng ôm chầm lấy đôi vai gầy đang rung lên của chị mà chẳng nói nên lời. Chị Bua khóc vì mừng vui, vì cảm động! Thì ra dân làng đốt lửa thật sáng để giúp chị Bua đứng từ xa có thể nhận ra tôi.
Tất cả dân làng đều ùa đến vây quanh hai chúng tôi. Họ vỗ tay, cười nói râm ran: Đúng là người của ta rồi! Phúc quá! May quá!...
Già làng giục chị em phụ nữ chuẩn bị cơm nước cho tôi rồi kéo tay tôi ra ngồi trên một súc củi cạnh đống lửa. Mọi người vây thành vòng tròn. Già làng nắm lấy hai vai tôi lắc lắc rồi nói với một giọng cảm động:
"Thật phúc cho con mà cũng may cho dân làng. Già thay mặt dân làng xin nhận lỗi với con, vì đã không tin ở con, mong con thông cảm. Người La-ve này luôn đề cao cảnh giác với bọn địch. Bọn chúng lắm mưu mô, đã có lần chúng giả bộ đội Ít-xa-la để lừa dân làng. Tối nay, vì cho rằng con là người của địch, nên có ý kiến đưa con lên đồn nộp cho bọn địch, vừa để lừa chúng nó là dân làng La-ve vẫn đi theo chúng nó! Có ý kiến cho rằng, đã là người của địch thì cứ cho một mũi tên thuốc độc, hoặc đập vỡ sọ rồi vùi đi cho êm chuyện, vừa để trừ khử đi một tên bán nước. Hôm nay, nếu không có Xảo Bua nhận ra con thì hậu quả thật đáng tiếc. Thôi, con đi ăn cơm rồi nghỉ ngơi. Sáng mai sẽ có người đưa con gặp Huyện ủy và Xẻng Thoong" (tên Lào của đồng chí Tấn).
Cơm nước xong, già làng đưa tôi về nhà và thu xếp chỗ ngủ cho tôi. Suốt cả một ngày băng rừng, vượt suối, lại gặp cảnh ngộ bất ngờ nên tôi trằn trọc, thao thức mãi rồi mới thiếp đi mà trong giấc ngủ như còn vẳng nghe đâu đây tiếng nói của chị Bua: "Khăm xỉ, em tôi! Cục vàng của chúng ta đây rồi...!".
Năm 1997, sau 6 năm về nước nghỉ hưu, do lãnh đạo Đảng bạn yêu cầu sang giúp một số việc, tôi có dịp trở lại Chăm-pa-xắc, nơi tôi đã từng chiến đấu, công tác nhiều năm trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ - cũng là nơi tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc về mối tình hữu nghị Việt - Lào.
Lần này về lại Chăm-pa-xắc, tôi muốn tìm gặp chị Bua.
Hôm kết thúc đợt công tác, theo đề nghị của tôi, Tỉnh ủy đưa chị Bua đến Pắc Xế gặp tôi. Chị già yếu đi nhiều nhưng vẫn còn minh mẫn. Chị cảm động rơi nước mắt khi gặp lại tôi, vì chị cũng như tôi đều tin rằng chẳng thể có được cuộc gặp gỡ hôm nay. Mừng vui, xúc động với bao nhiêu kỷ niệm về những tháng ngày ở vùng căn cứ tây nam Át-tô-pơ, khi chị là cán bộ phụ vận, đi xây dựng cơ sở kháng chiến cùng chúng tôi với bao gian nan, vất vả. Nhất là những lần gặp địch càn quét khủng bố cơ sở, giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt làng, triệt phá chùa chiền... Hai chị em hàn huyên hết mấy tiếng đồng hồ.
Để tỏ lòng biết ơn, tôi biếu chị một ít tiền, một số thuốc men, vài bộ váy áo. Chị không chịu nhận mà nhờ tôi mua một ít bánh kẹo để chị đem về làm quà cho trẻ em và bà con nơi chị ở. Chị chia tay chúng tôi với niềm xúc động nghẹn ngào của một bà lão đã ngoài tám mươi tuổi.


