Gặp người cùng khẩu đội Anh hùng Tô Vĩnh Diện
Trở về cuộc sống đời thường cùng vợ con và các cháu, Đại úy Nguyễn Văn Kha (nguyên Trợ lý Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu 9), sống giản dị trong một con hẻm nhỏ...
Trở về cuộc sống đời thường cùng vợ con và các cháu, Đại úy Nguyễn Văn Kha (nguyên Trợ lý Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu 9), sống giản dị trong một con hẻm nhỏ bên cạnh trụ sở Ủy ban nhân dân phường Trà An, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ. Ít ai biết rằng, hơn 60 năm trước, ông đã sống và chiến đấu cùng chiến sĩ Tô Vĩnh Diện-người anh hùng mà các thế hệ học trò đều biết về tấm gương anh dũng chiến đấu, hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa. Khi khơi gợi lại hình ảnh người đồng đội ấy, ông Kha không khỏi bùi ngùi, xúc động...
|
Khi nhắc đến sự hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, ông Kha rưng rưng xúc động. |
Tháng 11-1950, Nguyễn Văn Kha vừa tròn 15 tuổi đã rời quê hương Bắc Ninh tình nguyện nhập ngũ. Năm sau, ông được cử sang Trung Quốc học chuyển loại từ bộ binh sang binh chủng pháo cao xạ; ban đầu học ở Quảng Đông, sau đó chuyển lên Quảng Tây. Đến tháng 12-1953, ông Kha trở về Việt Nam và được biên chế pháo thủ số 2 pháo 37mm, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394 thuộc Trung đoàn Pháo Cao xạ 367, đúng vào thời điểm Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, ông cùng đơn vị hành quân vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo (Lai Châu). “Đơn vị tôi theo hướng đông cùng với Đại đoàn 312. Có điều, trong quá trình hành quân, tôi và đồng chí pháo thủ số 1 được “ưu tiên” chỉ vác ba lô cá nhân, đi cách xa đội hình vì sợ có bất trắc gì thì sẽ không có pháo thủ bắn. Lúc đó, tôi ở cùng khẩu đội với Anh hùng Tô Vĩnh Diện”.
Theo Đại úy Nguyễn Văn Kha, tháng 3-1953, Tô Vĩnh Diện được triệu tập để tham gia lực lượng pháo phòng không sắp thành lập. Sau đó, đồng chí Diện cùng đơn vị sang Quảng Tây (Trung Quốc) để huấn luyện. Trong thời gian này, đồng chí được chỉ định là Trung đội phó và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Sau 8 tháng huấn luyện, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về Việt Nam và hành quân lên Điện Biên Phủ chuẩn bị chiến đấu. Đồng chí được điều giữ chức Trung đội phó phụ trách Khẩu đội 3, Đại đội 827. “Khẩu đội tôi được giao sử dụng khẩu pháo cao xạ 37mm 1 nòng, có gắn lá chắn đạn với 2 cửa ngắm dành cho pháo thủ số 1 và số 2, do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho ta”, ông Kha nhớ lại.
Để giữ bí mật và bất ngờ cho các loại pháo lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường, các đơn vị đều tổ chức
hành quân ban đêm vào trung tuần tháng 1-1954, từ Tuần Giáo vào tập kết ở Km63, Đường 42. Tiếp đó, từ vị trí tập kết, bộ đội kéo pháo bằng sức người trên đường quân sự mới mở, có chỗ phải vượt núi cao gần 1.500m để vào trận địa cách xa vị trí tập kết 15km. Ông Kha kể: “Khẩu đội có 7 đồng chí nên không thể kéo nổi. May là nhờ có sự trợ giúp của bộ binh và công binh, nhưng phải gần 10 ngày sau mới đưa được pháo vào trận địa. Song, trận đánh đã không diễn ra như dự kiến. Ngày 26-1-1954, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định thay đổi phương án tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang "Đánh chắc, tiến chắc”. Các đơn vị pháo nhận được mệnh lệnh phối hợp với các đơn vị bộ binh kéo pháo trở ra. Đơn vị của tôi được lệnh kéo pháo ra điểm tập kết tại Bắng Hôm để ăn Tết Giáp Ngọ và chờ lệnh mới”.
Sau 5 đêm kéo pháo, đơn vị ông Kha ra đến một con dốc nghiêng 70 độ và hẹp ở gần Bản Chuối, Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Ty phụ trách điều khiển càng pháo để chỉnh hướng cho một đơn vị bộ đội kéo dây tời giữ pháo, ngoài ra còn hai chiến sĩ phụ trách chèn bánh pháo. Bất ngờ quân Pháp bắn từ Mường Thanh lên. Đơn vị kéo pháo nằm rạp xuống, cùng lúc dây tời bị đứt.
"Pháo thủ Ty lái càng phía ngoài bị càng pháo hất xuống vực và pháo trôi dần về phía vực sâu. Đồng chí Diện lập tức bỏ càng pháo phía trong chuyển sang càng pháo phía ngoài, lấy thân mình chèn vào bánh pháo. Tuy cản được pháo lăn xuống vực nhưng đồng chí cũng bị bánh xe của khẩu pháo nặng 2,5 tấn đè lên người. Câu nói cuối cùng khi được anh em đưa ra để cấp cứu, đồng chí Diện hỏi: “Pháo có làm sao không?”. Sau khi đồng chí Diện hy sinh, đồng chí cán bộ chính trị kêu anh em đưa Diện ra bờ suối an táng, và khẳng định: “Tô Vĩnh Diện đã hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên”. Lúc đó, đồng chí Diện là đảng viên dự bị, còn anh em mới 17, 18 tuổi, mọi người động viên nhau phát huy tinh thần, quyết tâm chiến đấu...”, ông Kha xúc động nói.
Ông Kha cho biết, khó khăn nhất là khi ta đánh chiếm đồi Độc Lập, nghĩa là bước vào giai đoạn 2. “Khi đơn vị tôi vào là 12 giờ trưa, pháo địch bắn tới tấp xung quanh. Tôi nghĩ, kiểu này chắc chết trong khi mình chưa bắn được phát nào thì hơi… phí. Lúc chúng tôi kéo pháo vào tới chân đồi thì pháo binh của ta bắn khống chế pháo binh địch nên chúng có phần ngán ngại. Nhưng, chiếm được vài phút thì bị nó đánh bật lại vì nó có hầm”. Ngưng một chút, ông Kha nói tiếp: “Sau gần một tháng nổ súng kể từ giai đoạn 2, ta và địch tranh chấp, giành giật nhau từng tấc giao thông hào. Đêm ta đào, ngày địch lấp. Đặc biệt ở khu vực đồi A1, một cứ điểm quan trọng nhất trong hệ thống phòng tuyến 5 quả đồi ở phía đông. Ta tổ chức 4 lần tấn công đều bị đánh bật lại và địch phản kích rất nhiều lần cũng đều bị đánh lui. Thương vong nhiều. Mưa ngập hết hầm hố. Lương thực cạn…”.
Trước tình hình đó, vấn đề ổn định tư tưởng bộ đội được chỉ huy các cấp đặc biệt coi trọng, nhất là khi trên biểu đồ hậu cần ở hầm chỉ huy Mường Phăng có những ngày chỉ vào con số 0. Chính vì vậy, tư tưởng mệt mỏi, hữu khuynh dao động xuất hiện ở một số chiến sĩ. Từ vị Tổng Tư lệnh đến cán bộ thường xuyên động viên anh em và nhận định tình hình rất cụ thể, rằng ta khó thì địch càng khó hơn ta. Ta thiếu lương thực còn có dân, có đường tiếp tế. Còn địch? Địch thiếu lương thực phải tiếp tế bằng máy bay, mà máy bay lại sợ pháo ta không dám xuống thấp. Thả tiếp viện xuống rơi ra ngoài nhiều hơn là vào trong... Đại úy Nguyễn Văn Kha khẳng định thêm: “Quân đội ta có nhiều vị tướng tài giỏi, có tầm nhìn chiến lược, đó chính là yếu tố quan trọng dẫn đến chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7-5-1954”.




