GẶP NGƯỜI, MỔ, CỨU THƯƠNG BINH
Ở Yên Bái, nhắc đến Hoàng Đức Vượng, nhiều người hiểu ngay đó là vị Bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, rồi Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội. Có lẽ chưa mấy ai biết ông là Bác sỹ Quân y chuyên ngành phẫu thuật, từng mổ, cấp cứu hàng trăm chiến sỹ ngoài mặt trận. Chiến tranh kết thúc, Hoàng Đức Vượng trở về với quân hàm Thượng úy cùng tấm Huân chương chiến công, và, sở Y tế Hoàng Liên Sơn giao cho ông trọng trách: Phó Giám đốc (1987), rồi Giám đốc (1989) Bệnh viện Lục Yên.
Tháng 7 năm 2016, tôi cùng nhà thơ Ngọc Bái, nhà văn Hoàng Thế Sinh đến Hà Giang dự Hội thảo Văn học miền đất Sông Chảy do Hội Nhà văn phối hợp với Hội VHNT Hà Giang tổ chức. Chiều tối đó (12.7) tại khuôn viên một nhà hàng, có tới cả trăm Cựu chiến binh có mặt. Ai nấy gọn gàng trong bộ trang phục cựu binh mà khuôn mặt nửa vui nửa buồn. Các anh họp nhau nhớ về ngày “Giỗ trận” Vị Xuyên 32 năm trước. Ngoài sân, Ngọc Bái đang trò chuyện với nhà thơ Trần Đăng Khoa về kỷ niệm sinh tử khi hai anh trú trong hang Hàm Rồng dưới làn mưa đạn pháo địch; Hoàng Thế Sinh chăm chú bên mấy thương binh nghe những chuyện ly kỳ về chính họ. Còn tôi? Bên trong nhà hàng, các cựu chiến binh đang vang lên đoạn ca “Đời mình là một khúc quân hành...”, bỗng chuyển sang “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới / Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới / Quân xâm lược bành trướng dã man...[1]! Tôi bước lại:
- Ơ kìa, Lục Thị Nhung, sao ở đây?
- Em đi cùng ông xã, anh ấy về với đồng đội!
- Anh Vượng là...
- Vâng, đúng! Anh Vượng nhà em là Bác sỹ quân y Mặt trận Hà Giang những ngày ác liệt nhất của năm tám tư tám nhăm (1984, 1985). Bác sỹ Nhung nói.
Từng là y tá Quân y Tây Nguyên ngày chống Mỹ, tôi cứ ám ảnh sau thông tin rất ngắn về người đồng nghiệp khác thời. Gần một năm sau, tôi mới có điều kiện gặp ông - Bác sỹ Hoàng Đức Vượng, và ông kể, nhưng lại dặn: - Chỉ vài “đoạn” thế thôi nhé, chuyện chiến trường mà. Tôi đồng ý.
Chiến tranh biên giới bất ngờ nổ.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, 80 sinh viên tình nguyện khóa 8 của Đại học Y khoa Việt Bắc được lệnh lên làm nhiệm vụ xây dựng phòng tuyến chiến đấu tại tuyến biên giới Lạng Sơn, trong đó có lớp trưởng Hoàng Đức Vượng chàng trai Tày xã Minh Tiến, Lục Yên. Thời gian sau, Vượng được kết nạp Đảng - một quyết định “phá lệ” lúc bấy giờ. Quân khu 1 chọn 20 bác sỹ ngoại khoa vào sỹ quan dự bị. Ngày nhận Bằng tốt nghiệp Đại học Y cũng là buổi lễ công bố chuyển thành sỹ quan chính thức. Lớp trưởng, sỹ quan trẻ Hoàng Đức Vượng được chỉ định bước lên bục danh dự hôn Quân kỳ và đọc 10 lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam, Ngay sáng hôm sau, các bác sỹ Quân y được lệnh có mặt tại Quân khu. Từ Quân khu I, Hoàng Đức Vượng và hai đồng nghiệp được điều tiếp về Trạm 44 Quân khu II, để rồi, mấy ngày sau đấy các anh có mặt tại Mặt trận Hà Giang nóng bỏng.
Ký ức chiến tranh
Viện Quân y 93 trực thuộc Quân khu II đặt tại Hà Giang có nhiệm vụ thu nhận, phân loại thương binh và phẫu thuật bước 1 những thương binh nặng. Gọi là Viện, nhưng chỉ có hai bác sỹ: Hoàng Văn Công gây mê hồi sức và Hoàng Đức Vượng, trực tiếp mổ.
Sau năm 1979 quân Trung Quốc rút toàn tuyến biên giới phía bắc, riêng Hà Giang thì không, ý đồ lớn của họ là huy động đại quân lấn đất, vẽ lại bản đồ lập ngay các cột mốc sâu vào nội địa Việt Nam. Chủ trương của ta, phải bảo vệ bằng mọi giá, phải giải phóng các điểm bị chiếm đóng. Chiến dịch MB84 (sau đó là M1 85) được tích cực chuẩn bị, các đơn vị quân chủ lực, quân địa phương, dân công hỏa tuyến... lên Hà Giang. Đêm 12 tháng 7/1984, ta đồng loạt tấn công cả mười mấy điểm mà quân Trung Quốc đã lấn giữ trái phép. Sự phối hợp của các đơn vị khá chặt chẽ: Đặc công, bộ binh, pháo binh, dân công...! Nhưng pháo tầm xa của địch quá mạnh, các điểm giao chiến lại vách đá tai mèo rất hiểm trở, khiến bộ đội thương vong nhiều. Quân y Viện dã chiến có cơ số 200 giường, đột ngột tăng lên 2400 giường chỉ trong hai ngày. Cơ sở vật chất của tất cả các cơ quan hành chính, trường học, lâm trường... đều dầy đặc lán thương binh. Bác sỹ chủ nhiệm phòng khám kiêm phẫu thuật viên Hoàng Đức Vượng cùng các chuyên môn y khoa phải phân loại thương binh một cách nhanh nhất, chính xác nhất, để mổ, cấp cứu, sơ cứu hoặc chuyển tuyến. Quân y Viện 93 do Trung tá Nguyễn Đức Nam làm Viện trưởng được tăng thêm hai bác sỹ, các anh vừa phẫu thuật vừa hội chẩn, và theo dõi tiên lượng sát sao đối với thương binh nặng. Không có điện, máy nổ chạy suốt ngày đêm; có lúc phải dùng cả các loại đèn mới đủ ánh sáng. Y dụng cụ, thuốc men, băng gạc... cho các ca mổ dã chiến, tuy đáp ứng nhưng phải điều chuyển bổ sung liên tục. Các bác sỹ phẫu thuật cứ xong một thương binh, ra thay găng, uống cốc sữa nước, lại vào mổ ngay. Trời tháng 7, nắng nóng hầm hập, tâm niệm của anh em Quân y lúc này chỉ có một câu: “- Thương binh không đợi!”...
Bác sỹ Vượng lặng sau câu nói chậm. Tôi nhẹ nhàng:
- Chiến tranh biên giới đi qua gần 40 năm rồi, những ký ức...
- Ký ức, hay kỷ niệm buồn vui trong chuyên môn của những năm tháng Hà Giang, với tôi, vẫn nguyên vẹn.
Rồi ông chậm rãi:
Hai cô sinh viên trường Sư phạm Hà Giang cùng khiêng cáng thương binh, quả pháo giặc cày vào bờ đá gây sát thương, một cô phải hai lần mổ, cắt chân; một cô, mảnh pháo lia gần hết khuôn ngực, em không bao giờ được nuôi con bằng sữa mẹ. Rồi, một sinh viên trường Y đang băng bó cho thương binh trên trận địa, mảnh đạn sượt qua đầu làm em bất tỉnh, mổ sọ não cho cô nữ sinh đồng nghiệp, bác sỹ, y tá ứa nước mắt. Mùng một Tết 1985, trạm thu dung thương binh vẫn cứ dồn dập. Hoàng Đức Vượng vào ca mổ cho chiến sỹ Toàn, một bên chân Toàn đã hoại tử, phải cắt bỏ từ đùi. Toàn thản nhiên nói: - Anh ơi, hôm nay mùng một Tết, em tròn mười tám tuổi! Bác sỹ Vượng nén lòng làm nhiệm vụ. Ca mổ kết thúc, Toàn được cứu sống.
Những chuyện như vậy ở Quân y tiền phương và Viện Quân y 93 mà Bác sỹ Hoàng Đức Vượng đã trực tiếp xử lý, còn nhiều lắm. Có điều, thời gian, sự việc, tất cả diễn ra lặng lẽ mà cấp tập, căng thẳng tới mức không có thời gian nhận dạng khuôn mặt, không kịp biết đến tên họ quê quán của thương binh. “- Phân loại nhanh, mổ an toàn, chuyển tuyến. Thương binh không đợi!”. Đó cũng là lời ghi nhận của đồng đội Đào Mạnh Chung, Quân y tá (nay là Cựu chiến binh phương Minh Tân thành phố Yên Bái) về các bác sỹ, y sỹ, y tá Viện Quân y 93, và về Bác sỹ Hoàng Đức Vượng mà tôi (tác giả) đã trò chuyện.
- Có trường hợp nào anh gặp lại, và…
- Cũng có. Ấn tượng! Bác sỹ Vượng tủm tỉm cười.
Ngày ấy (tháng 2/1985), Bác sỹ Vượng lên trạm dã chiến tiền tiêu tiếp nhận, phân loại thương binh thì gặp một chiến sỹ trẻ bị hoại tử (sau hoại thư sinh hơi) toàn bộ cánh tay, có nguy cơ phát triển vào cơ thể. Vượng quyết định mổ ngay theo cách riêng, ấy là mổ rạch sâu nhiều đường rãnh trên cánh tay, rửa dung dịch thuốc tím, rồi nhỏ pilixilin liên tục, không khâu mà để theo dõi. Sáng hôm sau, vết thương hoại tử được khống chế. Các bác sỹ hội chẩn rồi chỉ định điều trị “bảo tồn”. Ca mổ thành công hơn cả mong đợi. Khi Hoàng Đức Vượng được chỉ định báo cáo sáng kiến này tại Hội thảo Chuẩn đoán và điều trị sớm hoại thư sinh hơi do chấn thương, lúc đó cũng mới biết chiến sỹ đấy tên là Nông Văn Chiến, người xã Mường Lai, cùng quê Lục Yên.
Ngày Hoàng Đức Vượng làm Chủ tịch huyện, nghe báo cáo, ở xã Mường Lai có một thương binh không chịu nhận tiền đền bù di chuyển nhà cửa để lấy đất làm công trình thủy lợi, Chủ tịch Vượng về gặp, chuyện trò qua lại, thương binh nặng và bác sỹ phẫu thuật bất ngờ nhận ra nhau: - Lúc ấy, ngày ấy…! Thế là chỉ mấy hôm sau Nông Văn Chiến chuyển nhà, làm cho mấy hộ trong xóm chuyển theo.
Còn Nông Văn Khơi quê ở xã Khánh Hòa, Khơi chính là đặc công 821 Quân khu II, anh từng bám vách đá bò lên tận chốt giặc để đánh. Bác sỹ Vượng lên tuyến nghe tin có thương binh bị nát ruột, anh tìm đến, rồi cho lên xe Chủ nhiệm Quân y đưa gấp về viện. Vượng trực tiếp chuẩn đoán rồi mổ. Mổ và rửa huyết thanh đến đâu, dùng panh kẹp đến đấy. Ổn định, Nông Văn Khơi đã trở lại đơn vị. Nhưng vì ruột bị dính, anh phải mổ lần hai. Bác sỹ Vượng lại cầm dao, kéo phẫu thuật; nhưng lần này bất khả kháng, thương binh Khơi buộc phải chấp nhận cắt bỏ hai mét ruột. Ngày Hoàng Đức Vượng làm lãnh đạo huyện, đến thăm, thương binh Khơi (loại 1/4) nhờ xin cho cháu vào Trường Nội trú huyện. Sau này Nông Văn Khơi động viên con gái vào Đại học Y khoa với tâm niệm “môi trường có tâm làm việc thiện cứu người”.
Trong thời gian 1984 đến 1986, Bác sỹ Hoàng Đức Vượng cùng đồng nghiệp trực tiếp mổ cứu trên 500 người (bộ đội, dân công hỏa tuyến), đó là chưa kể anh còn có nhiệm vụ lên tuyến 1 phân loại thương binh, chuyển các tuyến sau. Bác sỹ Quân y Hoàng Đức Vượng hai lần được đi báo cáo điển hình ở Quân khu, ông được tặng Huân chương chiến công hạng ba về thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Rời nghề, không rời nghiệp
Mấy chục năm qua, Bác sỹ Quân y Hoàng Đức Vượng gặp đồng đội nào ngày “Mặt trận Hà Giang”, ông đều để tâm dò hỏi các thương binh nặng mà ông đã “ghi dấu” khi phẫu thuật. Hỏi để biết, để mừng cho họ được trở về, hoặc chia sẻ với thân nhân thương binh. Ông băn khoăn, đến hôm nay, vẫn chưa tìm được một thương binh người dân tộc Thái ở thị xã Nghĩa Lộ, anh bị thương ổ bụng rất nặng, đã cứu sống, nhưng lại chưa kịp hỏi rõ tên, rõ quê.
Ngày làm Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội, ông đề xuất với lãnh đạo tỉnh tôn tạo lại toàn bộ các Nghĩa trang Liệt sỹ trong tỉnh và khu Liệt sỹ Yên Bái ở Nghĩa trang Trường Sơn cho khang trang thoáng đẹp như các tỉnh bạn. Ông chỉ đạo rồi cùng nhân chứng tìm bằng được hài cốt các liệt sỹ trong trận đánh đồn Ca Vịnh năm 1951, đưa các anh về nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Ông cùng cơ sở tháo gỡ thủ tục hành chính để gia đình Cựu chiến binh Lương Văn Xuân (thuộc diện nghèo), được đưa hai con bị nhiễm chất độc da cam, mất trí hoàn toàn về Trung tâm bảo trợ tỉnh và hỗ trợ chăm sóc một người con tại nhà. Rồi ông trình tỉnh lập dự án xin các Bộ nguồn hỗ trợ xây dựng cơ ngơi “Trung tâm điều dưỡng người có công” tọa lạc bên bờ sông Hồng. Những năm làm giám đốc Sở, Hoàng Đức Vượng còn lăn lộn để ra đời Trường Cao đẳng nghề và cả loạt Trung tâm dạy nghề ở các huyện, theo ông, đây là nơi con em thương binh, bệnh binh, con em lao động nghèo, mới có cơ hội tìm được việc làm ổn định cuộc sống. Và tôi không thể không nhắc đến cuốn “Từ điển”: Yên Bái, những người con sống mãi cùng non sông đất nước, dầy 613 trang, khổ 20,5 x 29,5; bìa cứng, rất trang trọng,”đứng tên” Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Lao động thương binh và Xã hội. Một bộ tư liệu đầy đủ nhất về liệt sỹ và Mẹ VNAH tỉnh nhà.
Rời nghề, không rời nghiệp, Bác sỹ Quân y Hoàng Đức Vượng là con người như thế. Nhà nước đã ghi nhận ông – một Cựu chiến binh, một nhà quản lý ngành thời kỳ đổi mới bằng hai tấm Huân chương Lao động (hạng nhì, hạng ba) và nhiều danh hiệu tôn vinh khác.


