Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GẶP NHAU Ở CHIẾN TRƯỜNG.

Sau khi trở về Sở chỉ huy hậu phương Trung đoàn 202 tại Vĩnh Thạch – Vĩnh Linh, tác giả làm Trợ lý quân khí trong Ban Hậu cần. Ông được cử kiểm tra việc lắp tên lửa chống tăng B72 lên xe thiết giáp và bất ngờ gặp lại người bạn học cũ Hồ Chí Thức, người từng tưởng ông đã hy sinh. Sau đó tác giả được giao nhiệm vụ làm việc với Cụm 4 của Cục Hậu cần mặt trận, phụ trách điều phối vận chuyển đạn dược, xăng dầu và vật tư cho trung đoàn. Trong thời gian này ông biết nhiều người thân cũng đang chiến đấ

Lai Châu13/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau một thòi gian tạm nghỉ ở hậu cứ, tôi được lệnh gọi về Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn đóng tại Vĩnh Thạch - Vĩnh Linh. Lúc này Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn, Tiểu đoàn 66 và Tiểu đoàn 198 đã chuyển vào phía nam. Đoàn cán bộ của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đi thực tế ở Trung đoàn 202 cũng đã đi theo sở chỉ huy cơ bản vào hết phía Nam.

Người đứng đầu Sở chỉ huy hậu phương là đồng chí Quỳnh, Đại úy, Chủ nhiệm Hậu cần trung đoàn. Năm ấy đồng chí Quỳnh cũng đã ngoài 40 tuổi. Tính tình trầm lặng, ít nói. Trong Sở chỉ huy hậu phương còn có đồng chí Dự, Thượng úy, Trợ lý tác chiến, đồng chí Ngưỡng, Trung úy, Trợ lý quân lực, đồng chí Nên, Trung úy, Trợ lý đạn, đồng chí Dung, Trung úy, Trợ lý xăng dầu, đồng chí Thơ, Thiếu úy, Trợ lý tài vụ và tôi, Trợ lý quân khí.

Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, lúc đầu đóng ở nhà dân. Trong nhà chỉ có hai anh em. Người anh khoảng 24, 25 tuổi, cô em khoảng 20 tuổi. Cả hai anh em đều cao to, khỏe mạnh. Ở đây rất gần với giới tuyến và là túi bom trong chiến tranh phá hoại vì vậy có lẽ người già đã đi sơ tán hết. Những người trẻ ở lại không đi bộ đội mà họ phải bám đất vừa làm nhiệm vụ sản xuất vừa là dân quân. Ngoài công việc nhà, tôi còn thấy họ thường xuyên đi làm dân công hoả tuyến, có khi đi vài ngày qua bên kia sông Bến Hải rồi lại trở về. Họ là những người dày dạn, từng trải trong chiến đấu vì họ là những người sinh ra tại đây và đã có mặt ngay từ những ngày đầu giặc Mỹ đánh ra miền Bắc. Gọi là dân quân nhưng công việc của họ nặng nề căng thẳng không kém gì những người lính nơi chiến trận.

Về sau, khi phát hiện được một số hầm để hàng hoá từ cuộc chiến tranh phá hoại lần trước chúng tôi chuyển sở chỉ huy ra đó. Đó là những căn hầm xây bằng gạch có mái vòm, chiều sâu khoảng 4 đến 5m, chiều rộng 3m, chiều dài khoảng 6m. Những hầm này không kiên cố lắm, nếu bom hoặc đạn pháo rơi vào nóc hầm thì hầm sẽ sập ngay. Nhưng lúc này tìm được những chỗ như thế cũng đã là lý tưởng.

Tôi được bố trí ở chung một hầm với đồng chí Quỳnh, đồng chí Ngưỡng và đồng chí Dự. Đó là hầm chỉ huy của Sở chỉ huy hậu phương Trung đoàn 202.

Mới về Sở chỉ huy hậu phương, với chức danh là Trợ lý quân khí tôi được đồng chí Quỳnh phân công đi nắm tình hình lắp ráp tên lửa chống tăng B72 lên xe thiết giáp. Công việc này do Viện Thiết kế vũ khí chủ trì. Nơi triển khai là Tiểu đoàn 44 đóng trong rừng cao su.

Xuống đến hiện trường, tôi gặp ngay đồng chí Hồ Chí Thức là học viên khoá 1 cùng lớp với tôi, sau khi tốt nghiệp được phân công về Viện Vũ khí công tác và giờ đây cũng đã có mặt tại Vĩnh Linh, phục vụ cho chiến trường Quảng Trị. Gặp tôi, tại nơi này đồng chí Thức vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ. Sau lễ tốt nghiệp ở trường, mỗi người đi một ngả, ai cũng nghĩ rằng tôi đã ở lại trường làm công tác giảng dạy. Nhưng chẳng bao lâu thì lại nghe tôi đi chiến trường. Và khi đồng chí Thức vào đến Vĩnh Linh, không biết do nghe tin tức từ đâu, đồng chí nghĩ tôi đã hy sinh. Chiến tranh! Cuộc sống diễn biến thật nhanh chóng, sống chết không biết ngày nào. Trong tâm khảm của đồng chí Thức, tôi đã hy sinh rồi. 5 năm miệt mài đèn sách nhưng chỉ được một ngày trên chiến trường. Nhưng giờ đây, đồng chí bỗng gặp lại tôi, bằng xương bằng thịt, thật quá bất ngờ. Đồng chí nói:

"Tôi nghe ông đã hy sinh rồi! Tin này rất nhiều người đã biết. Chúng tôi rất buồn và ai cũng tiếc. Một con người tài hoa và đoản mệnh. Vậy mà ông vẫn sống. Số ông còn cao lắm. Xin chúc mừng ông đã từ cõi chết trở về".

Có lẽ tôi được đồng chí Thức gọi là một tài hoa vì đó là lời người ta thường dùng để an ủi cho một số phận không may. Nhưng cũng có lý vì trong thời gian đi học ở trường, tôi vừa là tổng cán sự của lớp, vừa là chủ bút tờ báo tường, vừa là diễn viên kịch nói và diễn viên đơn ca của đại đội. Về thể thao, tôi chơi được xà đơn, xà kép, tôi đánh bóng bàn và đôi khi còn là cầu thủ bóng đá của đại đội. Thứ gì tôi cũng biết một tý và như ông bố tôi nói: "Cái gì cũng biết, tức là chả biết cái gì cả!". Tuy nhiên, tôi cũng được anh em trong đại đội coi là người có tài, theo đúng cái nghĩa của nó là tài vặt. Một người có lắm tài vặt như thế mà chết sớm thì cũng đáng để người ta thương tiếc lắm chứ. Nhưng chiến tranh thì chẳng từ ai và tôi nghĩ rằng đã có rất nhiều người có tài thật sự, chứ không phải chỉ là tài vặt nhưng đã phải chết trước tuổi 20 trong chiến tranh.

Thời hạn công tác của đoàn cán bộ thuộc Viện Vũ khí không lâu. Nhưng chúng tôi cũng có nhiều thời gian để hàn huyên. Tôi kể cho đồng chí Thức nghe về cuộc hành quân vào Đông Hà, trận bị máy bay Mỹ tập kích ở Mai Xá Thị. Những câu chuyện mà sau này nó được kể đi kể lại rất nhiều lần. Nó trở thành một loại chuyện cổ tích hiện đại mà người ta nói là: "Biết rồi, khổ lắm nói mãi". Rồi lý do vì sao lại có cái tin là tôi đã hy sinh, đồng chí Thức cũng cho tôi biết tình hình các chiến hữu cùng khoá. Ngay sau khi tốt nghiệp, khoá 1 đã có 37 người được cử vào Đoàn 559. Đoàn đã xuất phát từ ga Vĩnh Yên vào ngày 8 tháng 11 năm 1971 và giờ đây có lẽ đã có mặt trên khắp các nẻo đường của cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt này.

Trong đoàn sĩ quan mới ra trường và đi thẳng vào chiến trường năm ấy có rất nhiều con cháu một số cán bộ cao cấp: mà tôi biết. Đó là:

- Tạ Xuân Hiền lớp ô tô có bố là Thiếu tướng Tạ Xuân Thu, Tư lệnh pháo binh.

- Nguyễn Thanh Sơn, lớp ô tô có bố là ông Nguyễn Tạo, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp.

- Nguyễn Quý Quyết, lớp cao xạ có bố là Thứ trưởng.

- Nguyễn Ánh Sáng, lớp Trạm nguồn - Bố là Tham mưu phó Quân khu 4.

Trong đó có một vài người khác cũng là con cháu các "Cụ", tuy không có danh sách trong đoàn đi thẳng vào chiến trường, nhưng giờ đây cũng đã có mặt ở Quảng Bình. Ngày ấy ra trường và nhận quyết định đi chiến trường là điều rất đơn giản. Không một ai chạy chọt để xin ở lại phía sau và các "Cụ" cũng không bao giờ viết thư tay cho cơ quan cán bộ nhờ bố trí cho con cái mình một vị trí có thể gọi là an toàn. Đúng là thời buổi mà "mọi ngả đường đều hướng ra tiền phương".

Sau một tuần, tôi và đồng chí Thức chia tay nhau, đồng chí Thức lại tiếp tục rong ruổi đến các đơn vị để làm công việc của mình. Còn tôi lại trở về Sở chỉ huy hậu phương của Trung đoàn 202.

Lúc này tại Sở chỉ huy của trung đoàn sau một thời gian vận hành, công việc được phân công đại thể như sau:

Đồng chí Quỳnh chỉ huy sở chỉ huy hậu phương phụ trách chung.

Đồng chí Nên, Trợ lý đạn làm kế hoạch và phụ trách việc tiếp nhận đạn từ các kho của mặt trận về kho trung đoàn.

Đồng chí Dung, Trợ lý xăng dầu làm kẽ hoạch và phụ trách công tác tiếp nhận xăng dầu từ các kho của mặt trận về kho trung đoàn.

Các đồng chí trợ lý quân nhu, quân trang, quân y phụ trách việc tiếp nhận hàng hoá của mình từ kho mặt trận về trung đoàn. Còn tôi phụ trách vế việc vận chuyển hàng hoá từ kho trung đoàn đến các đoàn vận tải của Cụm 4 Cục Hậu cần mặt trận, kể cả xăng dầu, đạn dược và quân trang quân lương. Ngoài ra, tôi còn là đại diện của Ban Hậu cần Trung đoàn 202 thường xuyên làm việc với Cụm 4 (là cơ quan của Cục Hậu cần mặt trận, bảo đảm cho các đơn vị cánh Đông của Mặt trận Quảng Trị).

Chỉ huy Cụm 4 là thủ trưởng Lệ, Trung tá, nguyên là Chủ nhiệm Hậu cần Binh chủng Đặc công. Vào thời gian này, bố tôi đang là Tư lệnh binh chủng Đặc công và cũng đang có mặt tại Bộ chỉ huy mặt trận. Khi liên hệ công tác với Cụm 4, tôi vẫn gọi Thủ trưởng Lệ là chú Lệ.

Hồi ở ngoài Bắc, thỉnh thoảng có dịp đến Bộ Tư lệnh Đặc công, tôi đã được gặp chú Lệ và chú cũng đã quen biết tôi. Trong lần đầu tiên đến liên hệ công tác với Cụm 4 với tư cách là trợ lý của Ban Hậu cần Trung đoàn 202, chú Lệ đã nhận ngay ra tôi là con trai ông Điềm, Tư lệnh binh chủng. Điều đó phần nào đã tạo cho tôi rất nhiều thuận lợi trong công việc. Mọi đề xuất về bảo đảm hậu cần cho trung đoàn với Cụm 4, bao giờ cũng được chú Lệ giải quyết rất kịp thời. Những đề xuất này thông thường đồng chí Quỳnh đã suy nghĩ kỹ và trao đổi với tôi rất cụ thể mỗi lần giao nhiệm vụ cho tôi lên Cụm 4 làm việc. Trong thời gian đầu của chiến dịch, một mặt hàng ít được quan tâm là chè và thuốc lá trở nên rất khan hiếm, vì nó không phải là hàng được ưu tiên trong vận chuyển. Ở Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, tìm được một bao thuốc lá, một gói chè là rất khó khăn. Thấy vậy, tôi đề nghị chú Lệ cấp chè và thuốc lá cho sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn và chú giải quyết luôn. Sau một thời gian thấy tôi làm việc với Cụm 4 khá thuận lợi, đồng chí Quỳnh phân công tôi đại diện cho Ban Hậu cần trung đoàn trực tiếp làm việc với Cụm 4.

Để dễ dàng thực hiện mọi công việc, đồng chí Quỳnh công bố trong Sở chỉ huy hậu phương chỉ định tôi là Trợ lý kế hoạch Ban Hậu cần trung đoàn. Với nhiệm vụ đó, tôi thường xuyên đi lại giữa Sở chỉ huy hậu phương trung đoàn và Cụm 4.

Trong những ngày làm việc với Cụm 4, thỉnh thoảng chú Lệ lại thông báo cho tôi những tin quan trọng. Trong đó có tin là hai ông chú của tôi cũng đã có mặt ở Quảng Trị. Người thứ nhất là chú Nghiêm Kình, Trung tá, Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320B. Chú Kình sinh năm 1927, chú tham gia cách mạng năm 1945 khi mới 18 tuổi, chú Kình vốn là người rất gần gũi và quan tâm đến tôi. Từ năm 1958 đến 1961, tôi đang học ở trường miền Nam, khi đó bố tôi đang đi học ở Trung Quốc, chú Kình là người thay mặt bố tôi, là phụ huynh của tôi, cứ sau mỗi học kỳ chú lại đến trường thăm tôi, đồng thời nghe nhà trường thông báo kết quả học tập của tôi. Ngày ấy, tôi học ở Hà Đông, còn chú đang là Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 325 đóng quân ở Quân khu 4. Đường sá xa xôi cách trở, nhưng để hoàn thành nhiệm vụ là phụ huynh của tôi do bố tôi giao phó, mỗi lần có dịp đi công tác ở Hà Nội chú đều vào trường thăm tôi và căn dặn tôi phải cố gắng học tập và tu dưỡng đạo đức để xứng đáng với truyền thống gia đình và sau này trở thành người có ích cho xã hội và đất nước. Đến năm 1961 bố tôi về nước, chú Kình không còn phải giữ vai trò là phụ huynh học sinh của tôi nữa. Chú được chuyển về Hà Nội công tác. Cả gia đình ở khu tập thể 3B, Ông Ích Khiêm, Hà Nội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc, ngắn ngủi chú được sống bên gia đình trong khung cảnh bình yên. Đến khoảng đầu năm 1964 chú lại lên đường. Chú đã qua nhiều chức vụ và giờ đây chú là Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320B và đang có mặt tại chiến trường này.

Chú Kình là hình mẫu của một người lính, người cán bộ chính trị, người chỉ huy sau này đã được nhà văn Nguyễn Minh Châu khắc họa trong tác phẩm "Dấu chân người lính". Chú lao vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ với tinh thần của người chiến sĩ xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chú đi khắp các chiến trường không hề biết chán nản, mệt mỏi, mặc dầu phải trải qua biết bao nhiêu gian khổ, hy sinh.

Chú truyền nhiệt huyết của mình cho thế hệ trẻ. cho những người lính dưới quyền và con cháu của mình. Trong người chú hầu như lúc nào cũng có một ngọn lửa không bao giờ tắt. Năm 1964, tôi thi đỗ vào Trường Đại học Tổng hợp, cũng là năm giặc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, dùng không quân đánh phá ra miền Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt và còn kéo dài. Từ đơn vị chiến đấu, lâu lâu có dịp về Hà Nội công tác, chú lại đến gặp tôi, động viên tôi lên đường nhập ngũ. Mặc dù lúc đó tôi vẫn đang còn nuôi khát vọng sẽ học để trở thành một nhà khoa học, một giáo sư ở trường đại học vì tôi rất thích làm nghề giáo viên.

Chú nói với tôi rằng: "Giờ đây không có khát vọng nào lớn hơn khát vọng giải phóng đất nước, chú mong rằng cháu sẽ xếp bút nghiên và có mặt trong cuộc chiến đấu này. Đó không những chỉ là một cuộc chiến đấu mà còn là một bản anh hùng ca, cháu hãy lên đường, sống, chiến đấu và ghi lại những gì cháu đã trải qua trong cuộc chiến tranh ! thần thánh, vĩ đại này!". Đúng là một cán bộ chính trị, một cán bộ tuyên huấn có lời nói đầy sức truyền cảm.

Trong chiến tranh, có những người luôn tìm cách lẩn tránh mọi nguy hiểm, gian khổ, có những người luôn suy tính để tìm được một chỗ yên thân, nhưng có nhiều người không hề tính toán, bất chấp mọi gian nguy, sẵn sàng tiến về phía trước. Rất nhiều người trong số họ đã ngã xuống. Chú Kình là một người như thế! Quảng Trị là chiến dịch cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp của chú. Tháng 8 năm 1972 chú hy sinh khi mới 45 tuổi. Chú đã có mặt trong cuộc chiến đấu vĩ đại trong bản anh hùng ca của dân tộc. Nhưng chú đã không thực hiện được ước mơ ghi lại những gì mà chú đã trải qua sau 27 năm, với một trái tim đầy nhiệt huyết, đầy khát vọng và đôi chân không hể mệt mỏi trên những nẻo đường chiến tranh.

Người chú thứ hai của tôi cũng đang có mặt trên chiến trường Quảng Trị là chú Nghiêm Trình. Chú Trình sinh năm 1934, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi mới 20 tuổi, chú đã là Khẩu đội trưởng. Hoà bình lập lại chú được Quân đội cho đi học và trở thành kỹ sư xe tăng. Sau khi tốt nghiệp, chú về nhận công tác tại Nhà máy Z153. Chú là một người rất hăng hái, rất nhiệt tình và sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì được phân công. Và giờ đây chú đang là chỉ huy của một đơn vị đặc biệt của Tổng cục Hậu cần có nhiệm vụ bám sát các đơn vị chiến đấu, để khi có thòi cơ thì tìm mọi cách bắt sống được xe tăng và xe thiết giáp của địch. Sau khi vào đến Vĩnh Linh, chú và đội công tác của mình đã đi thẳng vào căn cứ Ái Tử, nơi đang xảy ra những cuộc chiến đấu ác liệt.

Ngoài hai ông chú mới từ ngoài Bắc hành quân vào, tôi còn một ông chú ruột đã có mặt ở chiến trường Trị Thiên từ năm 1966. Đó là chú Nghiêm Sỹ Thái, chú Thái sinh năm 1940, chỉ hơn tôi 5 tuổi. Chú tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng hợp năm 1965. Sau khi tốt nghiệp chú vào thẳng chiến trường Trị Thiên và có mặt ở đó cho tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Như vậy ông nội tôi đã có tới 4 người con trai và cháu đích tôn có mặt trên chiến trường Trị Thiên năm 1972, trong đó có người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường.

Trong một lần đến làm việc với Cụm 4, tôi được chú Lệ chuyển cho một bức thư. Đó là thư của bố tôi, gọi là một bức thư, nhưng thật ra nó giống như lời động viên của một người chỉ huy với cấp dưới. Ông viết chỉ có vài dòng: "Cuộc chiến đấu trên chiến trường đang diễn ra rất ác liệt. Con hãy giữ vững tinh thần, không sợ gian khổ hy sinh, anh dũng tiến lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được cấp trên giao phó. Hẹn gặp lại sau ngày chiến thắng".

Tôi chưa hề đọc một bức thư nào như thế! Không hề hỏi han tình hình sức khoẻ, tâm tư nguyện vọng, chỉ có những lời động viên tinh thần rất ngắn ngủi, mạnh mẽ và khô khan. Trên chiến trường, trong khung cảnh bom rơi, đạn lạc, cái chết gần kề, người ta không kể lể dài dòng, "dây cà ra dây muống" mà chỉ nói thật ngắn gọn. Tôi đoán được ý ông, điều ông muôn nói với tôi lúc này là: "Chiến tranh rất ác liệt, nhưng đã có mặt trên chiến trường thì phải xứng đáng là một người lính con trai ạ!". Hàng ngày đối mặt với cái chết, nhưng không được dao động và khiếp sợ. Đã dao động và khiếp sợ thì không thể làm được gì.

Ai cũng biết rằng: "Cái quý nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần...". Vì vậy không ai muốn chết cả. Nó như một bản năng đối với mọi cơ thể sống, nó tồn tại trong từng tế bào thần kinh, nhưng trên chiến trường, rất nhiều người vẫn bình thản nhận những mệnh lệnh mà người ta biết chắc rằng để thực thi được những mệnh lệnh đó thì chỉ có một đi không trở về! Người ta không từ chối, không trốn chạy vì ngoài cái nghĩa vụ là phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh cấp trên như trong lời thề thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam, vì kỷ luật chiến trường, vì ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ đối với sự sống còn của đồng đội, của đơn vị, vì chiến thắng của đại cuộc còn có một lý do rất quan trọng và rất riêng tư. Đó là: Những người biết coi trọng danh dự thì không thể từ chối nhiệm vụ của mình, mặc dù phải đương đầu với cái chết, họ không thể sống mà mất đi danh dự của mình. Bức thư của bố tôi tuy rất ngắn ngủi, không dạt dào tình cảm nhưng nó đang nhắc nhở tôi một điều rất quan trọng rằng tôi đang là một người lính trên chiến trường!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn