[GDMN] - Câu chuyện về Hai Bà Trưng
Câu chuyện truyền cảm hứng
Hát Môn một sáng mùa xuân năm 40, gió sông Hồng thổi lồng lộng qua những cờ xí rợp trời. Trên đài thề dựng vội bên bờ sông, Trưng Trắc bước lên, dải khăn sô trắng quấn ngang đầu thờ chồng – Thi Sách, người vừa bị viên Thái thú tham lam Tô Định hại chết. Đứng bên cạnh bà là người em gái Trưng Nhị, ánh mắt rực lửa. Trước hàng vạn nghĩa binh võ phác, tiếng trống đồng vang lên dồn dập, Trưng Trắc dõng dạc đọc lời thề:
Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp cũ họ Hùng,
Ba kẻo hại đùa chồng cô,
Bốn xin vẹn vẹn cảnh hồ công lênh.
Lời thề vừa dứt, hàng ngàn lưỡi giáo đồng loạt vung lên. Dưới sự lãnh đạo của hai nữ tướng, nghĩa quân cùng vô số nữ tướng tài ba khắp nơi như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nạn tuốt gươm xông trận. Lực lượng đi đến đâu, quân Hán tan tác đến đó. Từ Mê Linh, quân ta tiến như vũ bão đánh chiếm Cổ Loa, rồi thọc sâu vào thủ phủ Luy Lâu. Thái thú Tô Định hốt hoảng cắt tóc, cạo râu, cải trang thành dân thường lủi thủi trốn về Tàu. Chỉ trong vòng vài tháng, 65 thành trì vùng Lĩnh Nam được quét sạch bóng thù.
Đất nước thu về một mối, Trưng Trắc được tôn làm Trưng Vương, đóng đô tại Mê Linh, xá thuế hai năm liền cho nhân dân.
Nhưng nhà Hán không chịu mất Giao Chỉ. Năm 42, vua Hán cử Mã Viện – vị tướng lão luyện nổi tiếng tàn nhẫn – đem 10 vạn quân cùng chiến thuyền sang xâm lược. Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt tại Lãng Bạc. Nghĩa quân dù chiến đấu dũng cảm nhưng trước sức mạnh bạo tàn và kinh nghiệm dày dặn của quân địch, ta buộc phải rút về Cẩm Khê cố thủ.
Đến tháng 2 năm 43, trong một trận chiến sinh tử, nhận thấy thế cờ khó đảo ngược, Hai Bà Trưng quyết không để sa vào tay giặc. Hai chị em tìm về dòng sông Hát năm xưa – nơi bắt đầu cuộc khởi nghĩa – rồi gieo mình xuống dòng nước xiết để giữ trọn khí tiết. Tấm gương trung liệt ấy đã thắp lên ngọn lửa bất khuất, mở đầu cho hàng ngàn năm đấu tranh giành lại độc lập của dân tộc Việt Nam.



