Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GHI CHÉP CỦA MỘT CHIẾN SĨ QUÂN Y

Đoạn kể ghi lại hành trình của một đội phẫu thuật lưu động trong quá trình tham gia chiến dịch ở Tây Bắc, từ truy kích thổ phỉ, hành quân gian khổ qua rừng núi đến tham gia phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong điều kiện thiếu thốn và nguy hiểm, đơn vị vừa cấp cứu thương binh, vừa liên tục di chuyển theo các mũi chiến đấu. Câu chuyện thể hiện tinh thần lạc quan, kỷ luật và niềm tin tuyệt đối của người lính vào thắng lợi dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và chỉ huy của Võ Nguyên

Đồng Nai20/03/2026Phạm Thị Minh Thoa (Đoàn xã Xuân Bắc)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Rừng núi Tây Bắc không lạ gì với đơn vị chúng tôi. Năm nào lại không đi về phía Tây Bắc hoặc Thượng Lào. (Vì Đông Bắc đã được giải phóng từ trước mà hướng đồng bằng thì chưa phải là quyết chiến điểm và cũng không dễ dàng giành thắng lợi trọn vẹn).

Lại lên đường đi chiến dịch, tất nhiên là bí mật. Không một lời kêu ca, phàn nàn. Thời đó, thời chiến sĩ thú vị thật, được hành quân là vui rồi. Một đêm đi lặng lẽ, lội trong bùn, mùi lá rụng bám chặt vào quần áo lẫn mồ hôi, rồi cũng đến điểm dừng chân khi trời sáng. Chà mấy ông tham mưu hay thật, đi cả đêm, khi nhìn lại chỉ loanh quanh ở một góc rừng; chỉ cách nhau độ vài nghìn mét; rồi cũng đến được địa điểm tập kết. Từ đường số 6, từ Thuận Châu đến đỉnh núi Long Hẹ, E Tòng, Tây Bắc, phải vượt qua một đèo cao, thời gian là từ sáng đến xế chiều, địa điểm mây mù và sương tỏa, dưới chân đèo núi là phỉ, chẳng biết ở đâu là chính xác. Việc đầu tiên là “nước” để đơn vị sinh hoạt và để sử dụng cho công tác chuyên môn; chỉ có thể căng tấm vải nhựa ni lông để hứng sương, hy vọng từ sương đêm đọng lại. Như thường lệ, mặt trời chưa xóa tan sương mù, tác phong của người phụ trách đơn vị là phải kiểm tra, dự kiến trong ngày phải làm gì để đảm bảo an toàn cho đơn vị sẵn sàng đối phó với phỉ.

Sáng hôm đó, nghe tiếng máy bay nặng nề từ phía đông đến, cứ 3 chiếc một nối nhau bay qua đỉnh núi Long Hẹ, E Tòng; cũng nhờ có kinh nghiệm đã từng thấy quân Pháp nhảy dù, cho nên đã kịp báo động với toàn đơn vị máy bay hướng về phía tây tây bắc. Và đã có lệnh gấp rút hành quân lên Lai Châu, ý định của cấp trên là phải đánh tan quân phỉ ở đó, để phỉ không liên lạc với lính nhảy dù của Pháp đã xuống vùng Tây Bắc. Được lệnh hành quân là chạy, chạy để kịp theo đơn vị đã đi trước, vừa chấn chỉnh đội hình, vừa chạy, vừa tổ chức huấn luyện cho 2 tiểu đội dân công được bổ sung; bất kể văn hóa, chỉ cần nghe được và nhắc lại cho người chạy tiếp theo đúng là đạt yêu cầu, cho nên trên đường hành quân có đôi khi phải nghĩ để kiểm tra các điều đã học theo cách truyền miệng. Thật lạ lùng, gần như tất cả đã đạt yêu cầu.

Bộ đội của ta đã gặp địch: tiểu đoàn thổ phỉ người Thái địa phương; trận đánh không khó khăn, ta không có thương vong mà còn bắt được chúng, trong số đó có một trung úy người Pháp chính cống. Cả đơn vị không ai muốn tiếp xúc với tù binh. Bất đắc dĩ, tôi phải hỏi cung. Tỏ vẻ sợ sệt thật sự, hắn ta trả lời rành mạch và luôn nhắc nhở lại là mới đến Việt Nam được 6 tháng, và mới nhận chức tiểu đoàn phó tiểu đoàn phỉ được 1 tháng, chưa chĩa súng vào một ai, xin ông lưu ý cho. Hắn chỉ có một thắc mắc “cán bộ là gì?”. Sau khi giải thích cho hắn hiểu mọi vấn đề về chính sách hàng tù binh. Hắn hỏi: “Tôi có được coi là hàng binh không?”. Tôi đã cười và nói với hắn ta: “Anh là người đã có chứng chỉ hai năm Đại học Luật mà không biết được tù và hàng binh khác nhau ư?”. Hắn òa khóc, và tự thú nhận không hề biết gì về quân đội Pháp đến Việt Nam.

Tôi kể lại cho anh em chiến sĩ trong đơn vị, cũng để động viên; tinh thần phỉ bạc nhược đến thế, thì phỉ chỉ là một ô hợp. Chắc chắn chỉ nghe tiếng ho của chúng ta thì nó đã tan rã. Và nghe tiếng AK là đầu hàng. Đêm đến, trên đỉnh đèo Claveau nhìn xuống Lai Châu mờ mịt, trời lại quá rét, bộ đội tản ra và điều bất ngờ là cứ mỗi tiểu đội lại nổi lửa để sưởi ấm. “Dấu hiệu khinh địch”, ngay lập tức một vài quả cối 60 ly, từ dưới chân đèo đã thức tỉnh các đơn vị chỉ huy. Mờ sáng đã có tin, khi truy kích phỉ vượt sông có tổ ba người đã bị nước cuốn trôi mất tích; ngay sau đó một tổ du kích địa phương đã cho biết chỉ cách phía trên một ghềnh đá, nước chỉ sâu đến thắt lưng có thể lội qua được; cả đơn vị sững sờ, các chỉ huy đơn vị lặng lẽ, không khí đơn vị như chùng xuống. Ngay sau đó một bộ phận tiền tiêu đã bắt dược toán phỉ chủ lực, nhưng không có vua phỉ. Chưa kịp nghỉ, nắm cơm vắt đã có mùi thiu, nhưng lại chạy theo đường tắt về Điện Biên Phủ. Từ đó không còn tên chiến dịch Trần Đình như trước khi hành quân, và cũng chẳng biết là chiến dịch gì? Vì đơn vị tôi phụ trách là một đơn vị quá bé nhỏ, chỉ là một đội phẫu thuật lưu động, cho nên theo lệnh trên là cứ chạy về hướng đã được chỉ dẫn.

Một cách thực hiện nhiệm vụ, suy nghĩ của người lính trẻ thời đó như chúng tôi chỉ đơn giản là chấp hành mệnh lệnh, và vui vẻ khi thực hiện mệnh lệnh. Trên đường hành quân về phía Điện Biên Phủ thì được tin: Ở một trận tao ngộ chiến với Lê dương tiền tiêu của Pháp nống ra để dò tin bộ đội ta; ta lại là một toán trinh sát thiện chiến, cho nên chỉ trong vòng mười lăm, hai mươi phút lính Lê dương đã rút, sau khi được không quân Pháp thả một vài trái bom chặn đường truy kích. Ta cũng bị thương vong do bom na-pan.

Và trong trận đó xuất hiện anh hùng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng... Giữa đồi núi tan hoang, xơ xác, chúng tôi lặng lẽ đi không hề suy nghĩ, chỉ tâm niệm: “Chiến dịch sắp đến là ác liệt và quan trọng (thời gian do chưa được phổ biến là chiến dịch Điện Biên Phủ). Chỉ một thời gian sau, được tin có nhiều đại đoàn cùng tiến lên hướng Tây Bắc, anh em trong đơn vị vui mừng vì không còn cô đơn như những năm trước. Dân công, xe thồ, lại có xe ô tô tải lớn; vui mừng nhất là đơn vị đi lấy gạo về gặp được cả súng đại bác, súng bắn tàu bay; có đồng chí đã ngây ngất kể lại là: được sờ, vuốt ve cả cái nòng súng to và dài, láng bóng... Chỉ một tin đơn giản vậy mà cả đơn vị cứ bàn tán mãi.

Nghĩ lại cuộc đời chiến sĩ lúc đó, hạnh phúc chỉ là chuyện ta đã có vũ khí mới, súng to và màu sắc láng bóng đã được anh em đem theo vào giấc ngủ, quên cả mệt nhọc và gian khổ trong những ngày qua. Sự lạc quan của đồng chí chỉ huy lại còn ấn tượng, khi phổ biến nhiệm vụ chiến đấu, mục đích của trận đánh chỉ nghe toàn chuyện so sánh ta có bao nhiêu súng lớn, địch có bao nhiêu súng, cứ kể miên man và cười rất to. Trận đánh này chắc thắng mà còn lại thắng rất nhanh, toàn đơn vị cũng cười theo số liệu so sánh về số súng giữa ta và địch.

Bây giờ nhớ lại, anh em ai cũng cười và tự hỏi tại sao ta lại giản đơn đến mức ấu trĩ! Sự tin tưởng tuyệt đối vào cấp trên đã tạo nên sức mạnh cho đơn vị nhỏ bé chúng ta và có lẽ của toàn quân đang trên đường tìm địch mà đánh, tất nhiên là sẽ thắng lợi. Đang nằm thao thức chờ tiếng súng mở màn chiến dịch, thì từ phía đông bắc, thấy các tia lửa, xen lẫn tiếng đại bác của ta, đơn vị không còn bàn tán mà tất cả đã tự động vào vị trí công tác đã được phân công từ trước. Cứ như thế suốt thời gian chiến dịch cho đến lúc nhìn thấy lá cờ trắng quân đội Pháp đầu hàng.

Cho đến bây giờ mấy chục năm sau, tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt của các thương binh nặng, mà khả năng sống rất mỏng manh, cứ chiều đến là chuyển về tuyến sau. Lại một nỗi buồn thoáng qua, vì biết rằng trong số đó sẽ có người không còn gặp lại gia đình, quê hương. Một buổi chiều sau nhiều ca mổ khó vất vả, có người ngồi trên bờ giao thông hào, nhìn thấy một tiểu đội quân ta, đi giữa đội hình là một giặc lái, còn mang nguyên trang bị của một phi công. Tôi bất ngờ xổ một tràng tiếng Pháp, đại ý là “đồ quân cướp nước, loại giặc lái này sang đây làm gì?” Anh em chiến sĩ ta cũng bất ngờ, là có chiến sĩ lại nói được tiếng Pháp.

Tên giặc lái càng ngạc nhiên, hắn chỉ xin được uống nước; các chiến sĩ dẫn tên tù binh cũng nhân dịp ngồi nghỉ và cho biết tên giặc lái khá kiêu ngạo. Tôi đã quay lại nói cho hắn ta là tù binh lại là phi công chiến đấu, là từ trên trời cao, cứ bom mà thả, cứ đại liên mà bắn, không phân biệt đâu là thường dân; anh nên nhớ ném bom bắn phá vào thường dân là một việc vô nhân đạo, anh không biết hay sao? Tên giặc lái chỉ cúi đầu, từ đó trở đi không dám nhìn vào các chiến sĩ của ta. Bắt được tên giặc lái là một chuyện và do vòng vây của quân ta khá chặt nên bọn chúng không dám bay thấp để thả dù, sân bay lại bị đại bác ta cày xới, nên dù tiếp tế cho bọn Pháp cứ bay theo hướng gió, do đó, chúng tôi lại được bổ sung cả thuốc điều trị cho anh em bị thương, đặc biệt là các loại máu khô (plasma sec), có cả áo khoác trong phẫu thuật của quân đội Mỹ viện trợ. Thật thú vị, vì biết được quân Pháp phải nhờ đến viện trợ từ cái áo blouse, thế có nghĩa là hậu cần của chúng cũng đã gần hết hơi. Đặc biệt đêm đến, một bộ phận lính ta đi kiếm dù lạc của Pháp, có cả bánh kẹo nhưng vui nhất là vớ được đạn đại bác 105 ly. Nếu ngày hôm sau nghe nhiều tiếng đại bác của ta, chắc hẳn là đại bác Mỹ viện trợ, ta lại trả cho Pháp. Tuy vậy, chiến dịch vẫn còn kéo dài, và mùa mưa đã đến, ta gặp khó khăn về thực phẩm, đặc biệt anh em bị thương nặng mà chưa được chuyển về phía sau. Có đồng chí y tá được phân công lên đồng bào Mèo trên rẻo cao để mua rau, có đồng chí được phân công bí mật đi về phía biên giới gần đất nước bạn để mua thực phẩm, loại thực phẩm bí mật là thịt “mộc tồn” với yêu cầu bí mật với dân nước bạn, bí mật với địch. Việc đi tìm “mộc tồn”, cũng có nhiều điều thú vị: có người phải nói là đơn vị đóng trong rừng quá nhiều chuột nên phải loại này mới giữ được cả kho thực phẩm “gạo, cá, thịt”.

Thời gian chiến dịch chẳng có ai đếm ngày đếm tháng. Đơn vị chúng tôi, một đơn vị phẫu thuật lưu động đã chuyển quân ba lần vòng quanh lòng chảo Điện Biên. Từ khi bắt đầu truy kích phỉ đến giải phóng Lai Châu và quay lại cùng đại quân bao vây Mường Thanh, hỗ trợ cho Quân y Đại đoàn 316; khi trận đánh tạm lắng lại được điều về Hồng Cúm để tăng cường cho Quân y Đại đoàn 304. Sau đó lại được ở với Quân y Đại đoàn 308 ở phía bên kia Bản Kéo. Khi chuẩn bị đánh quân Pháp có khả năng chạy về phía Thượng Lào thì lại được bố trí chuẩn bị cho truy kích. Cũng cần nói thêm, trong suốt thời gian đó chúng tôi được băng qua cánh đồng ba lần: đến bản Cò Mỵ để cấp cứu đồng bào bị bom, lần thứ hai lại quay về Cò Mỵ sát cứ điểm Hồng Cúm để cấp cứu cho thương binh vì khi đi trinh sát bị thương thì trời đã gần sáng không về kịp đơn vị. Khi vòng vây chúng ta thắt chặt thì lại điều về mũi chính diện phía sau của hai Đại đoàn 312 và 316 ở phía đông. Có lẽ cũng vì luôn thay đổi địa điểm trú quân và mỗi lần đến địa điểm mới dù đêm hay ngày đều phải làm đầy đủ các nhiệm vụ, trước tiên là đào hầm cho thương binh, đào hầm đạt yêu cầu cho phòng mổ chịu đựng được đại bác 105 ly. Do di chuyển nên cơ số thuốc không bao giờ đạt yêu cầu; sau khi phẫu thuật xong cho một số thương binh thì phải suy nghĩ, cân nhắc, số thuốc quá khiêm tốn đó nên ưu tiên cho thương binh nào. Cũng xin được nói, có thương binh sau khi phẫu thuật phải ở tư thế nửa nằm nửa ngồi theo quy định của chuyên môn thì tinh thần là chỗ dựa chính; tất cả các nhân viên đều phải thay nhau ngồi quay lưng lại cho thương binh dựa. Mặc dù trong tư thế nhân viên và thương binh nhìn về hai hướng khác nhau nhưng câu chuyện lại là một, hầu như nói đến chuyện quê hương, xóm làng, hậu phương; cho đến khi thương binh chuyển về tuyến sau, là một cuộc chia tay bịn rịn; có nhân viên còn đi theo thương binh mình đã phụ trách tiếp tục động viên an ủi, đến đêm mới trở về đơn vị.

Sau khi thắng lợi hoàn toàn, trên đường hành quân về đơn vị qua đồi A1, tôi thấy một khối bộc phá còn nguyên đặt bên trái chiếc xe tăng nòng pháo gục xuống; bất giác toàn thân tôi run lên, có thể cảm thấy từng thớ thịt và nghĩ đến đồng chí nào đã mang gói bộc phá đặt ở góc độ cần thiết để phá xe tăng, hiện đang ở đâu, hay đã lặng lẽ hy sinh vì khối bộc phá vẫn còn nguyên. Hình ảnh đó theo tôi mãi mãi cho đến bây giờ và khi thăm lại chiến trường xưa, đứng dưới phù điêu tạc tượng hình ảnh của chiến sĩ Điện Biên mà cứ nghĩ miên man. Thắng lợi chấn động địa cầu này thể hiện trí tuệ, truyền thống của cả dân tộc mấy nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, tôi được đi tham quan học tập ở một số nước. Khi sang Pháp, một bất ngờ đến với tôi là đã gặp và nói chuyện với một đại tá, nguyên là thiếu tá ở đơn vị Lê dương từng bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ. Ông ta đã nói: “Việt Nam thắng trận Điện Biên Phủ vì có sức mạnh của cả một dân tộc, lại có những đảng viên chân chính của Đảng Cộng sản Việt Nam, có cụ Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng thời, có cả một số lớn cán bộ chủ chốt đã làm tốt công tác hậu phương và công tác hậu cần”. Ông ta lại nói: “Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa trên thế giới, góp phần làm thay đổi lịch sử thế giới”.

Ông ta hỏi tôi: “Là người Việt Nam, anh có vinh dự được làm người lính của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và có tham gia chiến dịch này không? Anh được tham gia vào Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không? Anh ta quay lại nói với người con trai là một thạc sĩ y khoa: “Muốn trưởng thành, có lẽ phải phấn đấu như những người cộng sản Việt Nam, có lòng yêu nhân dân như những người Việt Nam đã từng đấu tranh hàng trăm năm cho độc lập, tự do của đất nước”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
GHI CHÉP CỦA MỘT CHIẾN SĨ QUÂN Y | Câu chuyện thời hoa lửa