Anh hùng Lao động

Gia đình với sự hình thành nhân cách của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, quyết tâm và nghị lực phi thường vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Nhân dân Vĩnh Long luôn tự hào về người con của quê hương mình, nuôi chí lớn từ thuở nhỏ, là người tài năng, nhân hậu, khiêm tốn, bình dị, tấm lòng rộng mở với mọi người. Nhân cách cao quý ấy được hình thành và nuôi dưỡng bởi nhiều nhân tố, trong đó phải kể đến nhân tố gia đình – chiếc nôi khởi nguồn nuôi dưỡng phẩm chất, nhân cách, ý chí, tài năng của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa.

Tuyên Quang15/08/2026phường Hải Dương (Phường Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tuổi thơ cơ cực, nghèo khó của Phạm Quang Lễ đã gắn liền với dòng sông Mang Thít bên cạnh gia đình cùng với thân sinh là ông giáo Phạm Văn Mùi và bà Lý Thị Diệu, chị gái Phạm Thị Nhẫn.

Cụ Phạm Văn Mùi (1881 – 1920) – thân sinh của Phạm Quang Lễ, vốn là một nhà nho uyên thâm, vì thời thế thay đổi nên chuyển sang học tiếng Pháp, rồi tốt nghiệp trường Sư phạm, về dạy tại thị xã Vĩnh Long. Ông giáo Phạm Văn Mùi là người hiểu biết rộng, lại giàu lòng nhân ái, tận tụy, tâm huyết, coi trọng học vấn, luôn mong muốn mang kiến thức đến cho những trẻ em nghèo khổ mở mang trí tuệ. Những phẩm chất đáng quý của ông giáo Mùi là tấm gương và bài học vỡ lòng, là nhân tố góp phần hình thành tâm đức trong sáng, mẫu mực của nhà bác học Trần Đại Nghĩa sau này.

Ông Giáo Mùi sớm nhận thấy được tài năng của Phạm Quang Lễ, có phương pháp giáo dục hiện đại, phù hợp và đã khơi dậy tính tự giác, lòng tự trọng, gieo niềm đam mê học tập, niềm tin để quyết tâm vươn lên của Phạm Quang Lễ. Ngoài những bài học ở lớp, Phạm Quang Lễ còn tiếp cận một cách hào hứng những bài học thêm ở nhà do cha dạy như tiếng Pháp, luận văn. Thấy con có những nhận xét và tìm hiểu về các hiện tượng thiên nhiên, vật lý và có khả năng giải toán nhanh, ông Giáo Mùi còn ra thêm các bài toán ở lớp trên để Phạm Quang Lễ giải.

Năm 1920, khi Phạm Quang Lễ được bảy tuổi thì ông giáo Mùi qua đời với lời trăng trối “Con phải gắng học để trở thành người hữu ích, sau này giúp đỡ người nghèo khổ!”. Lời trăng trối ấy đã khắc sâu trong tâm trí của Phạm Quang Lễ, luôn thúc giục ông phải cố gắng vươn lên để làm những việc giúp ích cho đời. Sự ra đi của ông giáo Mùi làm cho cả nhà hụt hẫng, kinh tế gia đình suy sụp và làm xáo trộn hoàn toàn cuộc sống của cả gia đình. Mẹ và chị gái phải trở về quê để kiếm tiền lo cho Phạm Quang Lễ ăn học, một mình Phạm Quang Lễ phải ở lại trường để tiếp tục việc học hành. Chính vì vậy, ông đã sớm hình thành cho mình được cách sống tự lập, ý chí vượt lên trên hoàn cảnh để trưởng thành. Có thể nói sự ra đi của ông Giáo chính là bước ngoặt quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đối với việc hình thành nhân cách của Phạm Quang Lễ.

Cụ Lý Thị Diệu (1881 – 1941) – thân mẫu của Phạm Quang Lễ, là một người phụ nữ sắc sảo, xinh đẹp, hiền lành, tôn sùng đạo Phật và luôn làm việc phúc đức, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, trẻ mồ côi, người tàn tật. Cách cư xử và đức tính cao quý đã góp phần nuôi dưỡng nên tâm tính hiền lành, nhân hậu trong con người của Phạm Quang Lễ.

Cụ Diệu còn là người vợ đảm đang, biết vun vén, chăm lo cho gia đình. Khi ông giáo Mùi qua đời, kinh tế gia đình sa sút nhưng bà vẫn cố gắng làm lụng vất vả để chăm lo cho Phạm Quang Lễ ăn học. Bà cũng là một người biết đặt cái chung lên trên lợi ích riêng tư của cá nhân, gia đình. Khi biết được ý định du học của Phạm Quang Lễ thì bà đã hết sức động viên con trai lên đường. Có thể nói, bà Giáo chính là tấm gương góp phần nuôi dưỡng nên tấm lòng trọn đời cống hiến, phục vụ quê hương đất nước của Giáo sư.

Phạm Thị Nhẫn (1911 - 1937) – chị gái của Phạm Quang Lễ cũng là một người góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách, việc thực hiện ước mơ, hoài bão của của ông. Dù chỉ lớn hơn Phạm Quang Lễ 02 tuổi nhưng phải bỏ học để cùng mẹ làm lụng nuôi em trai đến trường. Ông lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và chị gái. Mỗi khi đi học, Phạm Quang Lễ ngồi ghe nhỏ để người chị chèo lái đưa qua sông. Dòng sông ấy luôn in đậm trong nỗi nhớ thương của ông suốt cả cuộc đời, bởi nơi đó gắn với hình ảnh người mẹ tần tảo và người chị gái đảm đang; nơi mà cả một thời thơ ấu nghèo khó, ông vẫn đến trường - đi về mỗi ngày trên chiếc ghe nhỏ do chị gái đưa đón. Những hình ảnh đó đã làm cho ông lúc nào cũng cố gắng chăm học, ông luôn luôn là học sinh giỏi từ lớp đồng ấu đến tú tài. Năm 1933, tròn 20 tuổi, ông đỗ đầu cả Tú tài Việt lẫn Tú tài Tây. Do nhà nghèo, không có tiền ra Hà Nội học tiếp đại học, ông quyết định nghỉ học đi làm lấy tiền giúp mẹ, giúp chị và nuôi ý chí, ước mơ là được sang Pháp du học để sau này giúp đất nước. Với lòng yêu nước cháy bỏng, muốn đem tài sức của mình góp phần cùng đồng bào trong nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ông đã từ bỏ cuộc sống giàu sang, lương bổng lớn để trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến.

Gia đình, quê hương đã hình thành nên một Phạm Quang Lễ mang nhân cách ý chí vượt khó, giàu lòng yêu nước, thương dân, thương người nghèo khổ. Bên cạnh đó còn có chí nghị lực là sự dũng cảm, là nghị lực phi thường, là bản lĩnh của con người vượt qua thử thách, luôn đương đầu với mọi khó khăn, là người dám nghĩ, dám làm, không sợ khó, không sợ khổ, để vươn tới thành công.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã viết: “Tuổi trẻ thật là quý giá. Khi đã định hướng là khi ta không đánh mất mình trong dòng đời trôi nổi. Tuổi trẻ đủ sức mạnh giúp ta đứng dậy mỗi khi bị sức mạnh phũ phàng đánh ngã. Tuổi trẻ đủ dũng khí vượt lên trên con đường lẻ loi, âm thầm để đi tới tương lai. Tuổi trẻ khát khao tình yêu và cuộc sống, song khi đã có chí hướng, tuổi trẻ lại có thể dồn toàn bộ khát vọng cho tình yêu lớn. Bây giờ tôi muốn nói lại với các con tôi và tất cả các bạn trẻ như vậy. Đó là kinh nghiệm sống của đời tôi”.

Thật tự hào, khi chúng ta được sinh ra và lớn lên ngay trên mảnh đất đã từng nuôi dưỡng vị anh hùng của dân tộc, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; một tấm gương luôn là niềm khát vọng của nhiều thế hệ hôm nay, vững tin tiếp bước cha ông bảo vệ và phát huy những thành quả to lớn trên con đường hội nhập và phát triển; và càng tự hào hơn với ngành và nghề thư viện, bởi chính lĩnh vực này đã trở thành một trong những yếu tố góp phần để Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa trở thành nhà khoa học danh tiếng.

Xử lý tin: Phương Hà

Sưu tầm: https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/gia-%C4%91inh-voi-su-hinh-thanh-nhan-cach-cua-giao-su-vien-si-tran-%C4%91ai-nghia-29818-1804.html

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Gia đình với sự hình thành nhân cách của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa | Câu chuyện thời hoa lửa