KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ THIÊN NHIÊN, CON NGƯỜI GIA LAI. Gia Lai là một trong những tỉnh ở cửa ngõ Bắc Tây Nguyên, nằm phía tây Quân khu V, ở vào khoảng 12o85’’20 – 14o36’’30 vĩ độ Bắc và 107o27’’23 – 108o54’’40 kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum.
Tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum có nguồn gốc gắn bó từ xưa. Vào cuối năm 1932, thực dân Pháp tách huyện Tân An và huyện Cheo Reo (AyunPa) thuộc địa bàn tỉnh Kon Tum để lập tỉnh Pleiku. Đến tháng 8 năm 1943 chúng sát nhập huyện An Khê (thuộc tỉnh Bình định) và tỉnh Pleiku.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công. Chi đội Tây sơn, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên được thành lập, phụ trách địa bàn hai tỉnh Gia Lai(1) và Kon Tum. Tháng 1 năm 1950 Trung đoàn 120 biên chế mới đảm nhận công tác quân sự địa phương ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Để thống nhất chỉ đạo hoạt động trên chiến trường địch hậu, tháng 4 năm 1950 Thường vụ Liên khu ủy 5 quyết định thống nhất hai tỉnh Gia lai và Kon tum gọi là tỉnh Gia-Kon.
Sau hiệp định Genève, trong điều kiện tiến hành đấu tranh chống địch trong giai đoạn Cách mạng mới, Tỉnh ủy Gia Lai và Tỉnh ủy Kon Tum thành lập riêng trong khu vực Liên tỉnh 4 (gồm tỉnh Kon Tum, Gia Lai và ĐăkLăk).
Đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tháng 9 năm 1975 hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum sát nhập lại thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum để cùng cả nước đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Đến tháng 11 năm 1991, chấp hành nghị quyết của Quốc hội khóa VIII tách thành hai tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.
Ngày nay tỉnh Gia lai phía bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía tây giáp tỉnh BaTaNaKiRi (đông bắc Campuchia) có biên giới dài 90 km. Phía nam giáp tỉnh ĐăkLăk, phía đông giáp tỉnh Bình Định và một phần tỉnh Phú Yên.
Diện tích tỉnh có: 16.527 kilômét vuông. Dân số có 726.123 người(2), mật độ dân số gần 44 người/km2, gồm ba dân tộc đông là Kinh (51%), 49% đồng bào các dân tộc ít người, số đông là dân tộc Jơrai và dân tộc Bahnar. Gia lai là một tỉnh rừng núi trùng điệp, có thế đứng cao so với các vùng tiếp giáp. Rừng có nhiều loại gỗ quí như trắc, cẩm lai, giáng hương, kờte, săng lẽ… và có nhiều động vật quí hiếm có giá trị kinh tế cao như voi, hổ, báo, hươu, nai, gấu, bò tót, trâu rừng, sóc bay, thằn lằn bay v.v…. Rừng Gialai còn có nhiều dược liệu quí. Rừng chẳng những là nơi kín đáo cất dấu kho tàng, che dấu lực lượng hành binh đoàn lớn, mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để ta khai thác phục vụ chiến đấu và đời sống.
Địa bàn tỉnh được hình thành bởi nhiều dạng địa hình không đều nhau; có hai loại phổ biến, đó là núi và cao nguyên, ngoài ra cũng có những thung lũng, đất bằng giữa các núi hay là những hố sụt. Phía bắc tỉnh có núi Kông Kah King (1761m) quanh năm mây mù bao phủ, ở giữa dọc đèo Mang Yang có núi Kông La Pang (1571m), phía tây La – Sơn có điểm cao Chử HơDrung (1028m)(3). Phía nam tỉnh vùng AyunPa không có ngọn núi nào cao đáng kể. Từ những nơi cao hạ thấp dần xuống hình thành những cao nguyên tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 600 – 700 mét (so mặt biển), xen kẽ có những mỏm núi có giá trị khống chế các vùng xung quanh. Phía đông tỉnh, sát cao nguyên Pleiku là lòng chảo An khê rộng vào khoảng 40 kilômét, phù sa cổ trong các thung lũng sông tạo thành những bậc thềm rất rõ nét bị cắt quãng bởi những dòng suối đâm ngang. Cao nguyên này còn có những đồi nhỏ tròn như những chiếc vung khum khum nằm giữa đèo Mang Yang và đèo An Khê.
Phần cao nguyên phía tây tỉnh thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng le, có các bãi trống có bãi rộng đến một kilômét vuông.
Đất Gia Lai rất màu mỡ. Nhìn chung có hai loại đất được phong hóa chính là phong hóa ba-dan và phong hóa gra-nít rất tích hợp với các loại cây công nghiệp như cau su, cà phê, chè v.v… Gia Lai có những sông lớn và rất nhiều suối phát nguyên từ những dãy núi cao. Các sông, suối chảy về hai hướng: một hương ra biển Đông, một hướng sang phía tây đổ vào lực vực sông Mê Kông. Đáng kể là các sông Ba, sông Sêrêpôk, sông Ayun và một phần sông SéSan (còn gọi là sông Pô-kô). Sông Ba bắt nguồn từ phía đông bắc tỉnh, có hệ thống chi nhánh chằng chịt, xuyên qua các vùng dân tộc Bahnar, Jơrai qua thị trấn Ayun Pa đổ về Phú Yên trên một chiều dài trên 300 kilômét. Sông Ba lại còn có phụ lưu Ayun vửa nổi tiếng thơ mộng, có nhiều cảnh đẹp quyến rũ, có dung tích hơn 4 triệu mét khối nước(4), Các suối lớn như Ia Mơ, Ia Drăng, Ia Puch… bắt nguồn từ cao nguyên Pleiku đổ về sông SéréPôk. Sông suối lắm thác ghềnh, không thuận tiện cho việc giao lưu, vận chuyển.
Trên các vùng đất bằng của tỉnh có những hồ tự nhiên rộng và đẹp. Như hồ Ayun thượng (1265 hecta), hồ Ia Hrung (106 ha). Đặc biệt có Biển Hồ và tên địa phương là Ia Nueng rộng 230 hecta, không xa thị xã Pleiku bao nhiêu, in rõ hình dáng của miệng núi lửa tròn vành vạnh, là cảnh đẹp thiên nhiên, có sự tích xa xưa đau buồn cho dân 3 làng Jơrai, dấu vết của một sự kiện bi thảm khó quên, một tình cảm triều mến của đồng bào Pleiku. Đến Gialai không ai không nhắc đến thác Ya-Ly, cách thị xã Pleiku khoảng 30 kiômét về phía tây bắc. thác cao 30 mét, nước chảy mạnh tạo thành một bức tường trắng xóa. Đây là nơi du ngoạn của nhân dân và khách vãng lai.
(1) Sau khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 ta gọi tỉnh Pleiku thành tỉnh Gia Lai. (2) Số liệu Cục thống kê tỉnh theo Niên giám thống kê 1991-1992 (3) Còn thường gọi là núi Hàm Rồng hay Hòn Rồng (4) Sách Tây Nguyên. Nxbản Văn hóa 1980 – Trang 24 | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2020, 10:31:40 am » | Tỉnh có mạng lưới giao thông quan trọng. Quốc lộ 14, con đường chiến lược xương sống của Tây nguyên chạy từ Đà Nẵng lên Kon Tum, xuyên ngang tỉnh Gia Lai vào ĐăkLăk. Con đường đó có một thời kỳ đã được xây dựng bằng máu và nước mắt của những chiến sĩ cách mạng trung kiên thời kỳ tiền khởi nghĩa:
“… mỗi hòn đá đó bao hòn huyết, Một khúc cầu dây, mấy khúc thây!” Tố Hữu. Quốc lộ 19 chạy từ cảng Quy Nhơn lên thẳng phía tây tỉnh sang tỉnh RaTaNaKiRi (CPC). Con đường có ý nghĩa quan trọng cả về chiến lược và chiến dịch. Vừa là một đường chiến lược quan trọng ở Miền Trung, vừa có thể chia cắt chiến dịch và chiến lược chiến trường Việt Nam và cả Đông Dương ra làm đôi. Là trục đường cơ động của các đơn vị vũ trang tập trung, các binh đoàn cơ giới của ta (cũng như của địch) trong các chiến dịch tiến công và phản công. Trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, những đỉnh đèo An khê, Mang Yang, suối ĐakPơ, cầu Ayun và biết bao địa danh khác theo trục đường đã trở thành tên của những chiến công bất diệt, là mồ chôn giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai, mà chiến thắng GIM100 đã đi vào lịch sử oai hùng của quân và dân Khu 5, trong đó có tỉnh ta.
Con đường số 7 từ Mỹ Thạch (Chư Sê) chạy xuống Củng Sơn – Phú Yên, con đường còn nhiều dấu vết băm nát của mạng chiến tranh nhân dân ta, là bãi tha ma của hàng ngàn xe cơ giới Mỹ ngụy trong cuộc tháo chạy lịch sử 3-1975.
Tỉnh còn có mạng lưới đường hàng tỉnh nối liền Thị xã Pleiku đến các Huyện nông thôn: Đường 7B đi từ An khê về thị trấn AyunPa và Thuận Mẫn. Đường 6B nối Phú Mỹ - PleiMe – Phú Nhơn. Đường 509 từ Pleiku đi Plei Jirăng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ phía tây tỉnh đã hình thành tuyến đường hành lang.
Đường 1B cắt ngang phía tây tỉnh từ Bắc vào Nam, sát biên giới Việt Nam – CPC. Đường 220 nối liền đường số 14 từ Võ Định vòng qua đông bắc Pleiku ra giáp đường số 19 tại ngã ba làng Kon Dỏng. Mạng đường sá trên tỉnh có tác dụng rất tốt đối với hoạt động quân sự, đặc biệt là vào mùa khô.
Trong những năm chiếm đóng, thực dân Pháp xâm lược Mỹ và tay sai đã tổ chức, xây dựng một hệ thống sân bay lớn như Cù Hanh, Aréa, Tân Tạo, có lúc hàng 30 – 40 máy bay phản lực hoạt động. Ngoài ra còn xây dựng hàng loạt sân bay dã chiến phục vụ mưu đồ chiếm đóng lâu dài của chúng.
Núi rừng Gialai còn bị chi phối bởi thời tiết, khí hậu. Hàng năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình hàng năm 164,5 ly(1). Tháng 7, 8,9 là những tháng cao điểm mưa to, liên tục, gây ra lũ lụt, rất trở ngại cho sinh hoạt, canh tác và hoạt động quân sự. Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4,5 năm sau; nhiệt độ trung bình từ 21-25oc, đất se cứng, khô hanh. Nhiều suối khô cạn, trời trong xanh, thời tiết đưa lại nhiều thuận lợi cho giao thông và hoạt động quân sự.
Dân cư tỉnh Gia Lai sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung với những tập quán cổ truyền mang nhiều bản sắc tốt đẹp của nhiều dân tộc. Nét nổi bật là mỗi làng có một nhà Rông cao to và rộng, loại nhà sàn có kiến trúc đặc biệt gắn chặt tâm lý, tình cảm sinh hoạt xã hội của đồng bào dân tộc. Là trái tim của buôn làng đời đời không thể xóa nhòa trong tâm trí của đồng bào dân tộc.
Thiên nhiên ở đây không những tạo cho tỉnh những tiềm năng kinh tế rất dồi dào, mà còn tạo nên những đặc điểm hình thành một địa bàn quân sự có tầm chiến lược quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Gia lai có thế đứng cao so với các khu vực tiếp giáp. Từ đây có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực chung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, địa bàn rộng lớn cả chiều sâu và kín đáo, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nối liền nhau, hỗ trợ cho nhau càng tạo thêm một thế hiểm trở vững chắc. Những yếu tố trên tạo thành Gialai là một địa bàn chiến lược của Tây Nguyên, là căn cứ lâu dài, bền vững của Cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Gia lai bắc giáp tỉnh KonTum, trong những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa bàn hai tỉnh có liên quan mật thiết trong hợp đồng chi viện cho nhau chiến đấu. Là nơi dung trú lực lượng tích trữ lương thực thực phẩm, cơ động lực lượng chiến lược của trên chi viện cho các chiến trường.
Phía nam, vùng huyện Krong Pa và một phần huyện AyunPa là căn cứ địa cách mạng của tỉnh Đăk-Lăk trong hai cuộc kháng chiến.
Phía đông tỉnh giáp miên tây tỉnh Bình Định. Trong suốt cuộc kháng chiến chống giặc Pháp là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo tỉnh Gia lai, là địa bàn đứng chân của cơ quan chỉ huy Trung đoàn 120 và các cơ quan Huyện đội, làm bàn đạp phát triển tiến công lên Tây Nguyên và là hậu phương khai thác được nhiều tiềm lực vật chất cung cấp cho xây dựng và hoạt động của lực lượng ta, phá được thế bao vây ngăn chặn kinh tế của giặc Pháp.
Phía tây tỉnh, đường số 19 kéo dài từ Thị xã Pleiku lên Đức Cơ sang tỉnh RaTaNaKiri (CPC), trong hai cuộc kháng chiến là địa bàn liền núi, liền sông, thuận lợi làm nơi xuất phát của các lực lượng quân tình nguyện sang giúp lực lượng cách mạng chân chính Cămpuchia và Nam Lào.
Nhận thức Gia lai là địa bàn chiến lược quân sự quan trọng, những năm giặc Pháp chiếm đóng, chúng lợi dụng địa hình hiểm trở để tổ chức khu vực phòng ngự nhiều tuyến, xây hệ thống cụm điểm tựa để bảo vệ phòng giữ các khu căn cứ, thị xã, quận lỵ; áng ngữ khống chế các trục giao thông chiến lược tạo thành hệ thống phòng thủ chung trên chiến trường Tây Nguyên.
Về mặt tiến công quân sự, ta có thể thực hành đánh chia cắt, bao vây, cô lập địch từng khu vực để tiêu diệt chúng. Tỉnh là địa bàn dung lượng và sử dụng thuận lợi các lực lượng binh chủng hợp thành tương đối lớn, các đơn vị cơ giới hóa để tiến công địch. Là chiến trường thường xuyên nổi ra những đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng từng khu vực, phá từng mảng ấp chiến lược của chúng.
Địa bàn Tỉnh có tầm quan trọng về mặt chiến lược quân sự như trên, nên trong suốt 30 năm tiến hành hai cuộc kháng chiến, quân và dân Gai Lai đã từng trải qua muôn vàn gian khổ, ác liệt hy sinh; những cũng nơi đây đã từng bao phen đánh những đòn tiêu diệt lớn làm cho địch thất bại nặng nề. Quân và dân Gia Lai đã làm nên bao sự tích anh hùng.
(1) Lượng mưa theo số liệu Cục thống kê tỉnh. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2020, 10:34:46 am » | * Hiểu rõ vị trí chiến lược của Gia Lai, kẻ địch luôn luôn tìm cách giành giật địa bàn này. Trong cuộc xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dốc mọi cố gắng, dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, từ những hoạt động tình báo khoác áo thầy tu truyền đạo đến những đạo quân xâm lược ào ạt hòng xâm chiếm Việt Nam, có Tây Nguyên, GiaLai.
Khi Pháp chiếm xong Tây Nguyên vào khoảng năm 1890(1) với tham vọng khai thác thuộc địa, bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, vơ vét thật nhiều tài nguyên trên những vùng đất đai màu mỡ; chúng còn nhận ra ngay giá trị về mặt quân sự của miền cao nguyên rừng núi này. Vì vậy, khi đến nơi là chúng lập ngay các đồn binh để cai trị, tiếp đó chúng đặt vấn đề “ra sức phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông dương”.
Năm 1928 thực dân Pháp thành lập các tiểu đoàn bộ binh miền núi. Đến xâm lược Đông dương lần thứ hai, vào giữa năm 1946, những cánh quân Lê dương có xe cơ giới máy bay chi viện từ phía Tây (Bô Keo – Campuchia) đánh xuống cùng phối hợp với cánh quân phía Nam (Buôn Hồ - Đăk Lăk) ra hợp điểm tập trung đánh chiếm Gia Lai theo dọc trục quốc lộ số 19 và số 14 đến sát ranh giới tỉnh Bình Định. Từ đây chúng lập phòng tuyến chiếm giữ và uy hiếp, khống chế đánh phá đồng bằng Khu V. Chúng tổ chức ngay lực lượng vũ trang Cao nguyên(1), có bộ phận tập trung công khai hoạt động, có bộ phận ngấm ngầm nằm trong dân để bám giữ Tây Nguyên, làm chỗ dựa cho ý đồ xâm lược lâu dài đen tối của chúng.
Đế quốc Mỹ nhảy vào thay thế thực dân Pháp càng chú trọng đến địa bàn Tây Nguyên. Nhận thức đây là địa bàn rất có giá trị về chiến lược quân sự; chúng cho rằng: “Muốn chiến thắng ở Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được vùng Cao nguyên trung phần” có tính chất chiến lược này. Chúng dùng chính sách thực dân kiểu mới, thông qua bọn tây sai tư bản mại bản và phong kiến phản động để nắm Tây Nguyên.
Về quân sự, đế quốc Mỹ và tay sai lập Vùng II chiến thuật. Bộ chỉ huy Quân đoàn II ngụy đóng tại Pleiku, làm căn cứ chiến lược lớn để hòng đè bẹp phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và đồng bằng Khu V. Mỹ ngụy lập các trại huấn luyện “lực lượng đặc biệt”, thực chất là đào tạo các loại biệt kích nhằm đánh phá sâu trong các khu dân cư cả vùng chúng kiểm soát đến tận dọc biên giới cùng với lực lượng cơ động quân cộng hòa, biệt động, bảo an để thiết lập hệ thống phòng thủ kiên cố nhiều tuyến, nhiều vòng, từ giáp biên giới Campuchia đến trung tâm Thị xã, thị trấn, nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của ta từ ngoài vào, kìm kẹp quần chúng, đánh phá phong trào cách mạng trong tỉnh. Thực hiện các biện pháp chiến lược trong “chiến tranh đặc biệt”, tại Thị xã Pleiku thường xuyên có từ 1.000 đến 1.200 cố vấn quân sự Mỹ các loại.
Leo thang lên chiến tranh cục bộ, ở Miền Nam Việt Nam đế quốc Mỹ đã tung vào địa bàn Gia Lai những đơn vị quân chiến đấu sừng sỏ hòng tìm diệt quân chủ lực và dập tắt phong trào kháng chiến của tỉnh. Với lực lượng chiến đấu cơ động Mỹ và tay sai liên tiếp mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, kết hợp với hàng ngàn trận ném bom, rải thảm B52, thả chất độc hóa học, hòng biến núi rừng Gia Lai thành những vùng trắng hoang vu.
Hiệp định Pa Ri ký kết, quân viễn chinh Mỹ cam chịu thất bại cuốn cờ về nước; bọn tay sai Ngụy Sài Gòn liên tiếp sử dùng hàng chục Trung đoàn của các Sư đoàn bộ binh 22, 23 các liên đoàn biệt động cùng công binh, pháo binh, cơ giới… của biệt khu 24 mở hàng ngàn cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm giành giật những vùng tranh chấp và đánh sâu vào vùng giải phóng của tỉnh.
Suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước, Gia lai là tỉnh có phong trào nhân dân du kích chiến tranh vững mạnh, có vùng căn cứ rộng, là nơi đứng chân của các binh đoàn chủ lực cấp trên; là chiến trường phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa ba lực lượng, ba thứ quân, liên tục tổ chức những đòn đánh tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn quân địch. Là địa bàn có lợi thế để bộ đội ta mở những chiến dịch tiến công địch nhiều vùng, nhiều hướng. Cả lúc cách mạng ở giai đoạn tạm thời gặp khó khăn, tỉnh vẫn là nơi đứng chân vững chắc của cơ quan lãnh đạo để tạo và chuyển thế cho cả vùng rộng lớn.
Gia Lai cũng là bàn đạp cho các lực lượng ta làm nhiệm vụ quốc tế giúp cho phong trào cách mạng các tỉnh bạn ở Nam Lào và Đông bắc Campuchia.
(1) Sách CDịch Tây Nguyên đại thắng – Nxbản QĐND trang 17 (2) Forces armées des hauts plateause. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng« Trả lời #4 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2020, 10:45:33 am » | * Từ thế kỷ trước, nhân dân các dân tộc Gia Lai đã căm ghét chống lại bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương.
Vào giữa thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1771), cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn – Nguyễn Huệ lập căn cứ ở địa bàn vùng An khê, đồng bào dân tộc Bahnar phía đông tỉnh đã đứng lên, sát cánh cùng với đạo quân voi hùng dũng của Vua Quang Trung đập tan các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn. Đèo An khê, cửa ngõ lên Tây nguyên từ xa xưa, con đườn giao thông cổ chủ yếu nối liền đồng bằng Bình Định – Gia Lai, nơi đây đã cháy bùng lên ngọn lửa của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Các di tích: Lũy 7 cạnh ở An Khê, Sở chỉ huy của Nghĩa quân, các di tích đồn lũy, kho tàng trên nền Ông Nhạc, Ông Bình, cánh đồng Cô Hầu v.v… đã chứng minh điều đó.
Từ đây đến cuối thế kỷ 18, lịch sử đấu tranh của các dân tộc trong tỉnh bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đoàn kết gắn bó giữa anh em dân tộc Kinh và Thượng, Jơrai và Bahnar chung sức đấu tranh chống lại các thế lực áp bức, bảo vệ buôn làng.
Những năm đầu của thế kỷ 19, để chuẩn bị cho cuộc vũ trang xâm lược Tây Nguyên, các giáo sĩ người Pháp(1) tìm đường lên vùng đồng bào dân tộc Bahnar (KonTum) truyền đạo đã bị nhân dân địa phương bắt nộp cho Triều đình Huế. Mãi đến năm 1850, các giáo sĩ Pháp khác(2) lên Kon Tum tiếp tục truyền đạo. Đến năm 1852 sơ sở công giáo đầu tiên đã hình thành và đến năm 1870 địa phận giáo đạo KonTum thành lập.
Thực hiện âm mưu thôn tính nước ta, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để trị” kích động sự kỳ thị dân tộc, chúng lập ra “Liên minh Bahnar” để chống lại người Séđăng, đầu độc tư tưởng hằn thù dân tộc.
Lịch sử phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào các dân tộc trong tỉnh bắt đầu từ khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược lên buôn làng mình. Các cuộc đấu tranh này diễn ra lúc sôi nổi quyết liệt, bùng lên rồi lại bị vùi dập đàn áp, rồi lại bung lên liên tiếp và nổ ra trên nhiều nơi, nhiều vùng làm cho kẻ thù phải tìm cách đối phó.
Đoàn công cán của Nevelle, công sứ Pháp ở Qui Nhơn ngày 6 tháng 1 năm 1885 lên Pleiku, đã bị dân làng Piơm (dân tộc Bahnar) tiến công giết một người và bắn bị thương chín người khác. Nevelle buộc phải bỏ dở cuộc hành trình quay v |
|
|