Thân nhân liệt sĩ, người có công

GIA TÀI CÁCH MẠNG CỦA "ÔNG TÁNH"

"Gia tài cách mạng của 'Ông Tánh'" kể về cuộc đời kiên trung, giàu hy sinh của cụ Trần Đình Cơ (97 tuổi) và vợ – bà Lê Thị Tánh tại Bồng Lai: Truyền thống kiên trung: Tiếp nối tấm gương người anh ruột là Liệt sĩ Trần Đình Kháng (hy sinh năm 1970, gia đình vẫn đáu đau khát khao tìm lại hài cốt). Nuôi quân & Mắt xích liên lạc: Từ năm 1965, hai vợ chồng mưu trí trồng khoai, gói bánh tét nuôi bộ đội và nắm tình hình địch. Khí tiết ngục tối (1969): Bị tra tấn dã man khi mang thai 6 tháng, bà Tánh vẫn nhất quyết không khai. Người con gái năm ấy vượt qua giông bão chào đời, nay đã 58 tuổi. Gia tài vô giá Sau chiến tranh, bà Tánh mất do vết thương cũ, cụ Cơ một mình nuôi 7 con trưởng thành, có con trai tiếp bước làm Bộ đội Cụ Hồ. Tấm Huy chương Kháng chiến Hạng Nhất chính là di sản vô giá truyền lại cho mai sau.

Đà Nẵng01/08/2026Mơ Tui Lưu (Đơn Dương)60 lượt xem0 lượt chia sẻ
GIA TÀI CÁCH MẠNG CỦA "ÔNG TÁNH"

        Giữa cái nắng cái gió và sắc xanh yên bình của vùng đất vốn được ví như chốn Bồng Lai tiên cảnh, người dân nơi đây vẫn quen gọi cụ Trần Đình Cơ sinh năm 1929 bằng một cái tên chứa đựng bao niềm thương kính: "Ông Tánh". Cụ ông nay đã bước sang tuổi 97 nhưng ánh mắt vẫn minh mẫn khỏe mạnh hằng ngày ông vẫn kể lại cho con cháu nghe về gia tài cách mạng của mình. Ít ai ngờ rằng, đằng sau cái tên gắn liền với người vợ quá cố ấy là cả một thiên hùng ca đẫm nước mắt về tình vợ chồng son sắt, về một gia đình giàu truyền thống cách mạng và lòng yêu nước kiên trung giữa những năm tháng đỏ lửa của dân tộc.

Sự kiên trung và tấm lòng sắt sắt với cách mạng của cụ Cơ và cụ bà không phải tự nhiên mà có, mà được chắt chiu, ươm mầm bồi đắp từ chính nếp nhà kiên cường của ông cha." Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Xã Đại Minh, Huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng), gia đình cụ Cơ đã cống hiến những người con ưu tú nhất cho độc lập dân tộc.

        Trong đó người anh ruột của cụ Cơ  Liệt sĩ Trần Đình Kháng (sinh năm 1925)  là một tấm gương sáng ngời về người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Lên đường nhập ngũ từ tháng 01 năm 1954, vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng vào tháng 08 năm 1957, đồng chí Trần Đình Kháng đã trải qua nhiều năm tháng chiến đấu gian khổ, giữ cấp bậc Chuẩn úy, Trung đội trưởng thuộc Đơn vị An Dưỡng 584.

       Để lại quê nhà người vợ hiền Nguyễn Thị Năm sinh năm 1922 cùng gia đình, người trung đội trưởng ấy đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Vào ngày 07/04/1970, Chuẩn úy Trần Đình Kháng đã anh dũng hy sinh tại Cầu Hạ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

    Bằng Tổ quốc ghi công được trao về gia đình, nhưng suốt hơn nửa thế kỷ qua, dòng chữ "Mất thi hài" trong hồ sơ liệt sĩ vẫn là nỗi khắc mỏi nhói lòng trải dài qua thời gian của cụ Cơ cùng con cháu. Trong sâu thẳm tâm khảm, gia đình luôn mang theo một khát khao đau đáu: bằng mọi giá, dù qua bao nhiêu năm tháng hay dặm dài tìm kiếm, vẫn mong một ngày sớm nhất tìm lại được hài cốt của Liệt sĩ Trần Đình Kháng để đón người anh, người bác về yên nghỉ trong lòng đất mẹ quê hương. Dù hình bóng người thân chưa thể quy tụ, nhưng sự hy sinh cao cả ấy chính là tấm gương sáng ngời, hun đúc nên ý chí sắt đá để vợ chồng cụ Cơ kiên cường tiếp bước con đường cách mạng. 

      Nối tiếp truyền thống anh hùng của người anh trai, người thanh niên Trần Đình Cơ và người vợ hiền Lê Thị Tánh (sinh năm 1934) đã nắm tay nhau vượt dặm dài để vào định cư tại Tổ 11, thôn Bồng Lai, xã Hiệp Thạnh.

          Theo Giấy xác nhận thành tích của đồng chí Trần Thị Khả (Nguyên Trưởng Ban Phụ nữ tỉnh Lâm Đồng), từ năm 1965, khi gặp và giao nhiệm vụ cho vợ chồng cụ Cơ, một "trạm tiếp tế" và mắt xích liên lạc bí mật đã chính thức được hình thành ngay giữa lòng địch.

           Bồng Lai những năm tháng ấy còn chìm trong hoang sơ, hai bên đường cây cối um tùm, đan xè che kín lối. Mỗi khi màn đêm buông xuống, cái lạnh cắt da cắt thịt của đại ngàn cao nguyên lại đổ gập lên mái túp lều tranh. Cuộc sống thiếu thiếu đủ bề, hai vợ chồng phải lam lũ làm thuê làm mướn, dầm mưa sương nắng. Nhưng vượt lên gian khổ, cụ Cơ đã tích cực khai phá, mở thêm đất đai trồng khoai, trồng sắn để có nguồn lương thực ủng hộ cho cách mạng.

         Không chỉ vậy, cụ Cơ còn đảm nhận nhiệm vụ nguy hiểm: trực tiếp mua lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm tiếp tế cho chiến khu và làm nhiệm vụ liên lạc, nắm tình hình di chuyển của lính ngụy từ Quảng Hiệp về Đà Lạt để báo tin cho cán bộ.

        Hai vợ chồng còn nghĩ ra một "ám tín hiệu bằng lửa" cực kỳ mưu trí: Khi đêm xuống, nếu phát hiện có địch phục kích, ông bà sẽ chủ động đốt lên một ngọn lửa bùng sáng đó là mật hiệu cảnh báo nguy hiểm để cán bộ, bộ đội từ rừng xa biết đường tránh, không trở về. Còn những đêm không thấy lửa đỏ, bộ đội mới yên tâm tiếp cận căn nhà để nhận lương thực tiếp tế.

      Giữa vòng kìm kẹp gắt gao của địch, hằng đêm, hai vợ chồng thức trắng gói từng chiếc bánh tét, luộc từng củ khoai rồi lặng lẽ đặt ra ngoài sân tối. Đó không chỉ là nguồn lương thực tiếp sức cho chiến sĩ, mà còn là "tín hiệu ngầm" thiêng liêng. Nhìn thấy đĩa khoai, rổ bánh nằm yên giữa khoảng sân đêm, các chú bộ đội từ rừng sâu biết là an toàn để tìm về. Khi bị ngụy quyền nghi ngờ hạch hỏi, cụ Cơ vẫn giữ sự bình tĩnh phi thường, đưa mắt nhìn thẳng kẻ thù mà đáp lời mưu trí: “Nhà đông con lại nghèo nên tui làm bánh, trồng khoai đem bán cho người ta kiếm vài đồng mua gạo!”, bảo vệ an toàn cho cả một đường dây tiếp tế máu thịt.

       Thế nhưng, đằng sau những chuyến tiếp tế ấy là nỗi đau cắt ruột mà người mẹ trẻ phải gánh chịu. Khi đang mang thai được vài tháng, vì sự sống của cán bộ, vì miếng ăn của bộ đội giữa rừng sâu, bà Lê Thị Tánh vẫn cắn răng vác từng bao gạo nặng trĩu. Sự lao dịch quá sức đã khiến bà bị mất sinh linh bé nhỏ chưa kịp chào đời. Nuốt giọt nước mắt mặn chát vào trong, giấu nỗi đau xé lòng của người làm mẹ, bà lại tiếp tục đứng dậy, tiếp tục đỏ lửa nuôi cách mạng.

       Sự hiểm nguy luôn rình rập nơi tuyến đầu bí mật. Năm 1969, cơ sở bị lộ, ngụy quân ngụy quyền ập đến bắt giữ bà Lê Thị Tánh. Biết bà là mắt xích quan trọng, nhằm bẻ gãy đòn gánh tiếp tế cho chiến khu, lại một lần nữa lại bị địch bắt thời điểm bị đày vào ngục tối, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn dã man nhất nhằm bẻ gãy đòn gánh tiếp tế cho chiến khu nhưng lúc này bà Tánh đang mang trong mình sinh linh bé nhỏ tròn 6 tháng tuổi. Trong căn buồng tù tăm tối, lạnh lẽo, những đòn tra tấn đánh đập tàn nhẫn liên tiếp dội xuống thân thể người phụ nữ mang thai. Nhưng nhớ về người anh ruột của chồng Liệt sĩ Trần Đình Kháng đã hy sinh, nhớ về cán bộ chiến sĩ ngoài chiến khu, người mẹ trẻ càng thêm sắt đá.

         Bị tra tấn đánh đập dã man "điêu đứng thân xác", nhưng bà Lê Thị Tánh vẫn giữ trọn khí tiết kiên trung, nhất quyết không khai báo bất kỳ một thông tin nào cho địch. Sự kiên trung vô bờ bến ấy đã bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cán bộ và tổ chức cách mạng.

     Không thể khuất phục được người phụ nữ kiên cường, kẻ thù đành phải thả bà về. Nhưng do những trận tra tấn dã man trong tù ngụy khi đang mang thai, cộng với gian khổ tích tụ qua năm tháng, bà Lê Thị Tánh đã kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng, để lại niềm thương xót vô hạn cho gia đình và Bà ra đi, để lại người chồng trẻ cùng 7 người con thơ dại. Nuốt nén đau thương tột cùng, cụ Trần Đình Cơ ở lại, vừa làm cha, vừa làm mẹ. Bằng đôi bàn tay chai sần và ý chí sắt đá, cụ một mình lam lũ làm thuê làm mướn, vượt qua cái nghèo cái khó để nuôi dạy cả 7 người con khôn lớn, trưởng thành.

    Kỳ tích thiêng liêng nhất chính là sinh linh bé nhỏ từng cùng mẹ trải qua những trận tra tấn dã man trong ngục tối năm 1969  người con gái bé bỏng của bà  đã kỳ diệu vượt qua nghịch cảnh để cất tiếng khóc chào đời và trưởng thành là bà nay đã bước sang tuổi 58. Sự sống ấy chính là quả ngọt xoa dịu đi nỗi đau mất mát, là minh chứng sống động cho sức sống phi thường của tình mẫu tử và lý tưởng cách mạng.

        Để trân trọng và tưởng nhớ người phụ nữ kiên trung đã hy sinh trọn vẹn tuổi thanh xuân, bà con xóm giềng đã gọi cụ Cơ bằng cái tên "Ông Tánh"  một sự khắc ghi vĩnh hằng về hình bóng người vợ hiền trong lòng người chồng và cộng đồng.

      Sự hy sinh cao cả của thế hệ đi trước đã thấm sâu vào máu thịt của thế hệ tiếp nối. Lớn lên từ mái tranh nghèo khó, từ mồ hôi tiếp tế của mẹ, từ gương hy sinh của bác ruột  Liệt sĩ Trần Đình Kháng, và tình yêu thương của người cha người con trai của cụ đã tiếp bước cha anh, khoác lên mình màu áo xanh người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục cống hiến trọn đời cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

       Hôm nay, giữa vùng quê thanh bình và trù phú, cụ Trần Đình Cơ vẫn đang hiện diện như một "nhân chứng sống" của lịch sử. Ở tuổi 97, cụ vẫn giữ được sự minh mẫn, mạnh khỏe bên đàn con cháu trong đó có người con gái 58 tuổi năm xưa từng cùng mẹ đi qua cơn giông bão ngục tù.

      Minh chứng trân quý cho những năm tháng thầm lặng ấy chính là tấm Huy chương Kháng chiến Hạng Nhất mang tên ông Trần Đình Cơ, do Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký tặng (Quyết định số 570/2005 QĐ/CTN ngày 07/06/2005) cùng những Giấy xác nhận thành tích trang trọng của các cán bộ cách mạng tiền bối.

      Từ vùng đất hoang vu năm xưa, nay quê hương đã vươn mình xanh tốt, bình yên. Ký ức về những chuyến mua lương thực tiếp tế từ năm 1965, những lần nắm tình hình địch di chuyển về Đà Lạt, câu nói mưu trí đánh lạc hướng giặc, hình ảnh người mẹ kiên trung giữ trọn khí tiết trong tù ngụy năm 1969, cái tên "Ông Tánh" thân thương vượt qua cái nghèo nuôi 7 người con khôn lớn, và niềm khắc mỏi hướng về người anh ruột Liệt sĩ Trần Đình Kháng chưa tìm thấy hài cốt... tất cả đã trở thành gia tài cách mạng vô giá. Ngọn lửa truyền thống ấy sẽ mãi là điểm tựa tinh thần, soi sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn