GIẢI PHÓNG ÁT-TÔ-PƠ
Năm 1970, trước âm mưu mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, quân ta phối hợp với bạn Lào mở chiến dịch giải phóng tỉnh Át-tô-pơ trên cao nguyên Bô-lô-ven. Trung đoàn 24 (Mặt trận B3) cùng quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang Lào tiến công tiêu diệt các cứ điểm then chốt như tiểu đoàn 4BI, Phu-lăng-kẹo, Phu-xa-phông, đánh tan quân phản kích, giải phóng hoàn toàn thị xã Át-tô-pơ và vùng đông nam Hạ Lào. Chiến dịch thắng lợi sau 2 đêm 1 ngày, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.000 tên
Sau những thất bại nặng nề trong hai năm 1967 - 1968 của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng, chiến lược "chiến tranh cục bộ" lấy quân Mỹ là chủ yếu, với biện pháp "tìm diệt" đã hoàn toàn sụp đổ.
Để hạn chế tối đa thương vong cho quân Mỹ, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", lấy quân ngụy là chủ yếu, cộng với hỏa lực Mỹ từ xa, với biện pháp "quét và giữ" nhằm giữ cho được những vùng còn lại, mà thực chất là một sự đi xuống trong ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
Để thử nghiệm chiến lược mới, chúng chọn địa bàn Tây Nguyên triển khai với hy vọng cải thiện được tình hình mà quân Mỹ không bị tổn thất nặng. Đầu năm 1970, chỉ trong vòng một tháng, chúng lần lượt mở 3 cuộc hành quân (3 chiến dịch) ra vùng Chư Pả tây thị xã Pleiku mang tên "Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50" với lực lượng gồm 2 trung đoàn, 1 liên đoàn biệt động ngụy, đã bị Trung đoàn 24 (thiếu) và các đơn vị tăng cường lần lượt đánh bại. Trước tình thế sụp đổ của quân ngụy, Mỹ buộc phải đưa 1 tiểu đoàn Mỹ ra ứng cứu, nhưng cuối cùng tiểu đoàn này cũng bị đánh thiệt hại, buộc số còn lại của Mỹ lẫn ngụy phải ôm đầu máu tháo chạy. Tiếp theo chiến thắng Chư Pả, quân và dân ta tiếp tục giáng những đòn sấm sét vào quân chủ lực ngụy, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ngày càng bị sa lầy nghiêm trọng. Để cứu vãn tình hình, đế quốc Mỹ vội vàng thành lập liên minh tay ba về quân sự gồm: Nam Việt Nam, ngụy Lào, ngụy Cam-pu-chia phối hợp mở các cuộc tấn công quy mô lớn trên đất Lào và Cam-pu-chia nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, uy hiếp hậu phương ba nước, buộc ta phải phân tán đối phó, giảm áp lực cho chiến trường miền Nam.
Tháng 1 năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp trên cơ sở nhận định âm mưu mới của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương, đã đề ra "nhiệm vụ cho quân và dân miền Nam tiếp tục đẩy mạnh tấn công địch trên các chiến trường, đồng thời ra sức phối hợp, giúp đỡ bạn nắm thời cơ đưa cách mạng Lào và Cam-pu-chia tiến lên mạnh mẽ. Đặc biệt Trung-Hạ Lào có vị trí hiểm yếu nối liền hành lang chiến lược Bắc - Nam; phải tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng và các căn cứ cách mạng bạn và ta, giúp bạn giải phóng nhiều vùng rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược là nhiệm vụ hàng đầu".
Thực hiện tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương (20-4-1970), trên hướng chiến trường Hạ Lào, quân đội ta được lệnh phối hợp chặt chẽ với bạn tiến mạnh về phía tây, cùng bạn giành thắng lợi lớn trên hướng chiến trường mới, tạo thế và lực cho cả ta và bạn để mở rộng địa bàn chiến lược quan trọng Tây Nguyên - Hạ Lào - Đông Bắc Cam-pu-chia, tập trung trọng điểm là thị xã Át-tô-pơ, Bộ Tổng Tham mưu hai nước Việt Nam và Lào quyết định thành lập mặt trận X (sau lấy tên là Mặt trận An Sơn), với nhiệm vụ giải phóng tỉnh Át-tô-pơ và một vùng rộng lớn cao nguyên Bô-lô-ven, tiến tới giải phóng Sa-ra-van, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào. Bộ Tổng Tư lệnh quyẽt định mặt trận B3 - Tây Nguyên cử một trung đoàn mạnh sang phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Lào thực hiện nhiệm vụ trên, dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Quân khu 4. Trung đoàn 24 được giao thực hiện nhiệm vụ này.
Là một đơn vị có truyền thống trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 24 có mặt trong những ngày đầu trên chiến trường Tây Nguyên (1965). Đơn vị vừa đánh bại ba cuộc hành quân Bình Tây 48, 49 và 50 của đế quốc Mỹ, được Bác Hồ trực tiếp gửi điện khen, khí thế cán bộ chiến sĩ rất cao, nay lại được thay mặt lực lượng vũ trang Tây Nguyên làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, tinh thần càng tăng thêm gấp bội. Nhiệm vụ vô cùng khẩn trương nhưng các đơn vị của Trung đoàn đang rải khắp từ bắc Kon Tum đến tây Gia Lai, Bộ Tư lệnh B3 quyết định Trung đoàn (thiếu Tiểu đoàn 5) được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28, 1 đại đội ĐKB và cối 120 ly cho kịp thời gian quy định. Với tinh thần bôn tập, bộ đội trèo đèo lội suối, xuyên rừng vượt biên giới, tìm đường mà đi trên một chiến trường hoàn toàn mới lạ. Chỉ trong thời gian chưa đầy 10 ngày, toàn đơn vị đã đến nơi tập kết quy định tại khu vực Huội Tiêu, phía tây nam thị xã Át-tô-pơ. Đặc biệt bộ phận tiền trạm và đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường phải đi cả ngày đêm, vượt lên trước bắt liên lạc với Bộ Tư lệnh chiến dịch tại Binh trạm 34 để nhận nhiệm vụ và triển khai công tác chuẩn bị chiến trường.
Tại Binh trạm 34, đồng chí đại tá Hoàng Kiện phổ biến nhiệm vụ và công bố quyết định của trên thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận do đồng chí Hoàng Kiện làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Trần Quyết Thắng làm Phó Chính ủy, tôi - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 kiêm Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ huy tiền phương. Lực lượng chiến dịch gồm: Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện Việt Nam, 1 đại đội đặc công S4 cùng lực lượng quân giải phóng bạn và lực lượng vũ trang địa phương bạn, có nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng thị xã Át-tô-pơ, đánh chiếm một vùng rộng lớn trên Cao nguyên Bô-lô-ven, uy hiếp Sa-ra-van và Pắc Xoòng. Theo mệnh lệnh của cấp trên, chiến dịch phải tiến hành khẩn trương để phối hợp với các chiến trường trên cả ba nước Đông Dương, chậm nhất là phải nổ súng vào đầu tháng 5 năm 1970.
Công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng và các cơ sở vật chất hậu cần kỹ thuật hết sức khẩn trương. Một mặt, chỉ huy các cấp từ trung đoàn đến đại đội đi trước để chuẩn bị chiến trường, lập phương án tác chiến chiến dịch, các đồng chí cấp phó chỉ huy bộ đội hành quân vào khu vực tập kết. Các đơn vị quân tình nguyện và bộ đội bạn có thuận lợi hơn vì đã nắm chắc tình hình địch và địa hình. Riêng Trung đoàn 24 lần đầu tiếp cận chiến trường, thời gian chuẩn bị rất gấp nên có nhiều khó khăn, nhưng được sự giúp đỡ của Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện do đồng chí Luận làm tiểu đoàn trưởng nên cũng nhanh chóng hoàn thành công tác chuẩn bị đúng tiến độ. Mọi tình hình về địa hình, nhân dân, nhất là tình hình địch đều được nắm rõ. Việc tiềm nhập được thuận lợi, các mũi tấn công đã tiềm nhập vào các lớp kẽm gai và nắm được quy luật hoạt động và bố trí của địch. Qua công tác nghiên cứu được biết, tỉnh Át-tô-pơ là một tỉnh ở đông nam khu vực Hạ Lào, thị xã nằm trong thung lũng sông Sê Kông được bao quanh ba phía, lưu thông với thị xã Sa-ra-van ở phía bắc và thị trấn Siêm Rạng thuộc Cam-pu-chia ở phía nam chủ yếu bằng đường sông, được cao nguyên Bô-lô-ven án ngữ từ phía tây tây nam - tây bắc cách thị xã khoảng 6 đến 7km. Từ các đỉnh cao 1001 Phu Lăng Kẹo trên cao nguyên Bô-lô-ven có thể khống chế toàn bộ thị xã. Muốn giữ được thị xã phải đánh chiếm được các điểm cao nói trên. Xung quanh thị xã là các làng bản rải rác đến chân cao nguyên Bô-lô-ven. Dân trong thị xã khoảng một vạn người, chủ yếu là đồng bào Lào, một ít là người Việt và người Hoa. Là một hướng tương đối cô lập, xa trung tâm Hạ Lào nên lực lượng địch tương đối mỏng yếu, tổng cộng khoảng một nghìn do đại tá Khăm Còm chỉ huy kiêm Tỉnh trưởng. Trong đó, tiểu đoàn 4BI là tiểu đoàn mạnh nhất, bố trí phòng thủ phía bắc thị xã thành 3 cụm, 2 đại đội phía trước, 1 đại đội và sở chỉ huy tiểu đoàn ở phía sau, cách thị xã 1km. Tiểu đoàn 43BV đóng ở phía đông thị xã và cao điểm Phu-xa-phông, có 1 trung đội pháo 105 ly, 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội pháo 105 ly bố trí ở điểm cao Phu-lăng-kẹo, 1 đại đội đóng ở phía Nam Sống. Trong thị xã có 1 đại đội văn phòng bảo vệ tỉnh trưởng cùng các lực lượng pháo cối, cảnh sát, biệt kích, thám báo, lực lượng ô hợp có khoảng 1 tiểu đoàn. Phía tây thị xã có sân bay bằng đất, hàng ngày máy bay cánh quạt lên xuống. Tất cả các đồn đều cấu trúc tương đối kiên cố với tường hộp bao quanh, bên ngoài có các lớp rào kẽm gai và rào gỗ. Địch thường tung thám báo biệt kích hoạt động cách 5 đến 10km để phát hiện tình hình, ban đêm bố trí các toán ra phục kích ngoài hàng rào. Trên các hướng ta có thể thâm nhập địch bố trí gài mìn trên các trục đường mòn.
Sau một thời gian nghiên cứu tình hình, Ban chỉ huy Trung đoàn thống nhất phương án tấn công để thông qua Bộ Tư lệnh chiến dịch. Theo nhận định của Trung đoàn, nếu ta tập trung tiêu diệt nhanh tiểu đoàn 4BI, đơn vị chủ lực mạnh nhất án ngự hướng bắc thị xã, đồng thời đánh chiếm hai trận địa pháo khống chế tại điểm cao Phu-lăng-kẹo và Phu-xa-phông thì thế địch nhanh chóng bị vỡ. Trên cơ sở phân tích tình hình, trung đoàn quyết tâm sử dụng Tiểu đoàn 4 được các hỏa lực ĐKZ 12 ly 7, cối 120 ly của trung đoàn chi viện, được Tiểu đoàn 2 (- 1c) Trung đoàn 28 làm thê đội 2 có nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt tiểu đoàn 4BI. Tiểu đoàn 4 là đơn vị chủ công, thiện chiến trên chiến trường Tây Nguyên, đơn vị vừa đánh thiệt hại tiểu đoàn Mỹ tại Chư Pả tháng 1 năm 1970 và tiêu diệt gần hết một căn cứ tiểu đoàn Mỹ ở Làng Giã nên có nhiều kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc. Anh em có quyết tâm cao, được trung đoàn rất tin tưởng. Đồng thời phối hợp với hướng tấn công chủ yếu, đại đội đặc công của Trung đoàn tập kích đánh chiếm trận địa pháo tại căn cứ Phu-lăng-kẹo. Trung đoàn đề nghị giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 đặc công (thiếu) quân tình nguyện đánh chiếm căn cứ pháo binh tại Phu-xa-phông, Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện tiêu diệt đại đội địch ở Nam Sông, Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện và bộ đội bạn bao vây, đón lõng vòng ngoài phía đông thị xã, đồng thời sẵn sàng phát triển truy quét quân địch tháo chạy và bọn phản động tại chỗ, làm công tác dân vận ổn định tình hình. Do các mục tiêu ở xa nhau, trung đoàn đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cường Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện cho trung đoàn trực tiếp chỉ huy, còn hướng Phu-xa-phông và Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện vì ở xa nên đề nghị Sở chỉ huy cơ bản trực tiếp nắm. Hiệu lệnh tấn công lấy tiếng nổ bộc phá hướng Trung đoàn 24 để đồng loạt nổ súng. Sau khi nghe báo cáo quyết tâm của trung đoàn và các ý kiến đóng góp tại hội nghị, Bộ Tư lệnh nhất trí với phương án của Trung đoàn. Bộ Tư lệnh quy định rõ: Chỉ huy sở tiền phương chiến dịch do đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 kiêm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm thống nhất với sở chỉ huy Trung đoàn, có một số trợ lý của mặt trận tăng cường - lực lượng đánh Phu-xa-phông và Tiểu đoàn 2 quân tình nguyện cùng lực lượng bạn do sở chỉ huy cơ bản trực tiếp nắm, có các đồng chí đoàn chuyên gia Hạ Lào tham gia, công tác đảm bảo hậu cần do Binh trạm 34 bảo đảm. Quy định giờ G là 0 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1970. Trường hợp có tình hình đột biến do đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 quyết định để kịp thời xử trí vì liên lạc với sở chỉ huy cơ bản chủ yếu bằng 15W không đảm bảo kịp thời. Các hướng hành động theo tiếng nổ bộc phá của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24. Sau khi Bộ Tư lệnh chiến dịch thông qua quyết tâm, các đơn vị khẩn trương triển khai đúng kế hoạch.
Tại Trung đoàn 24 mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, việc quán triệt phương án tác chiến đối với các đơn vị được tiến hành khẩn trương và chu đáo, khí thế quyết tâm của các đơn vị rất cao. Đối với Trung đoàn 24 thì đây là lần đầu tiên được lãnh nhận sứ mệnh cao cả về thực hiện nhiệm vụ quốc tế do Bộ Tổng Tư lệnh và Mặt trận B3 tin tưởng giao phó. Các tiểu đoàn quân tình nguyện và bộ đội bạn lâu nay hoạt động lẻ tẻ, nay được tham gia chiến dịch lớn cũng rất đỗi tự hào. Các đồng chí chuyên gia quân sự hết sức tận tình trong mọi công việc được phân công. Đặc biệt các đồng chí cán bộ lãnh đạo hết sức vui mừng và tin tưởng vì đây là sự kiện lịch sử đối với cách mạng nước bạn sau bao năm chiến đấu kiên cường liên tục.
Từ Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch tôi báo cáo lần cuối cùng bằng vô tuyến điện về Sở chỉ huy cơ bản, đề nghị cho thực hiện theo kế hoạch. Sau khi nhận được lệnh phê chuẩn của Sở chỉ huy cơ bản, các hướng bắt đầu hành động: tối 28 tháng 4, theo tính toán cự ly xa gần mục tiêu, các đơn vị bắt đầu tiềm nhập. Các đơn vị đặc công vì ở xa, đêm 27 tháng 4 đã bí mật ém sẵn gần khu vực mục tiêu. Trên hướng trung đoàn, các đơn vị tiếp cận mục tiêu không gặp trở ngại lớn. Riêng mũi tiến công chủ yếu của 4 tiểu đoàn đánh vào Sở chỉ huy tiểu đoàn 4BI trên đường tiếp cận gặp 1 tiểu đội địch nằm phục kích ngoài hàng rào 50 mét, 1 tiểu đội khác phục kích cách vị trí chỉ huy của tiểu đoàn khoảng 100 mét. Trời cao nguyên rất lạnh, quân địch trùm áo khoác ngủ nằm, ngủ ngồi không hay biết, ta phải vòng tránh để tiếp cận vào hàng rào. Các mũi bắt đầu cắt dây thép gai, bí mật mở cửa mở. Khoảng 22 giờ trở đi, thỉnh thoảng địch bắn pháo sáng, bắn cối 60 ly và M16. Có 2 đồng chí vướng đạn bị thương. Các mũi báo cáo có hiện tượng địch phát hiện tiếng động nên phải nằm im chưa cài bộc phá, lúc này mỗi hướng chỉ còn 1 lớp hàng rào cuối cùng. Đến 23 giờ 30 phút, Sở chỉ huy tiểu đoàn 4BI của địch có dấu hiệu báo động vì súng nổ nhiều, pháo sáng tăng cường hơn và có nhiều tiếng nói lộn xộn. Nhận định khả năng địch đã phát hiện, việc mở cửa mở chỉ còn 1 lớp rào cuối cùng, Trung đoàn hạ quyết tâm bắt đầu cho nổ bộc phá để phát lệnh tổng tấn công trước giờ G 30 phút theo tình huống đã dự kiến trước. Lập tức cả 3 mũi trên hướng Tiểu đoàn 4BI, các khối bộc phá bắt đầu nổ rền, hỏa lực bắn thẳng tập trung tiêu diệt các hỏa điểm, cối 120 ly, 82 ly, 60 ly dồn dập bắn vào trung tâm. Tiếng pháo cối, tiếng súng máy vang dội cả một vùng. Lửa bắt đầu bốc cháy trong đồn địch. Sau 15 phút phát huy hỏa lực, các mũi đồng loạt xung phong, quân địch bị bất ngờ, đứa bị bắn gục, đứa tháo chạy, tiếng súng AK vang vọng khắp cả vùng bắc thị xã, các tổ xung kích vừa chạy vừa quét tiểu liên, bọn địch tháo chạy thục mạng vào trung tâm nhưng đến đâu cũng gặp các mũi tấn công của ta nên toàn bộ trận địa tiểu đoàn 4BI chìm trong khói lửa. Bọn lính tiểu đoàn 4BI hoảng loạn tháo chạy vào thị xã. Chỉ sau gần 1 giờ chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa, địch chết ngổn ngang, ta thu được hàng trăm súng các loại. Đến 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1970 toàn bộ tiểu đoàn 4BI bị tiêu diệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, uy hiếp trực tiếp thị xã đang trong tình trạng hỗn loạn.
Hiệp đồng theo tiếng bộc phá trên hướng Phu-lăng-kẹo và Phu-xa-phông, các đơn vị cũng bắt đầu nổ súng, sau 30 phút đơn vị đặc công trung đoàn đánh chiếm trận địa Phu-lăng-kẹo bất ngờ, phần lớn quân địch bị tiêu diệt, một số tháo chạy về hướng cao nguyên Bô-lô-ven, ta thu 2 pháo 105 ly. Hướng Phu-xa-phông, đơn vị S4 đặc công quân tình nguyện sau 40 phút nổ súng cũng hoàn toàn chiếm lĩnh trận địa. Đến đây trên các hướng hầu như im tiếng súng, pháo cối, hỏa lực, pháo sáng trong thị xã bắn loạn xạ, nhân dân hỗn loạn, gia binh nhao nhác. Thừa thắng, trung đoàn cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 sẵn sàng chiếm lĩnh trận địa, đào công sự ngụy trang để đề phòng phi cơ địch oanh tạc, đồng thời sẵn sàng tấn công vào thị xã. Đúng như dự kiến, sáng ngày 29 tháng 4 hàng chục máy bay từ Thái Lan sang ném bom bắn phá xung quanh thị xã, tàn quân các nơi chạy về lại làm cho tình hình không thể kiểm soát, tên Khăm Còm - Đại tá Tỉnh trưởng tuyên bố tử thủ giữ vững Át-tô-pơ.
Lệnh của Sở chỉ huy, trung đoàn thực hiện tiếp bước 2 chiến dịch, tấn công giải phóng thị xã, đồng thời sẵn sàng đánh địch phản kích ở Phu-lăng-kẹo và bắc thị xã. Lúc này tình hình trong và xung quanh thị xã hỗn loạn, địch không kiểm soát nổi mà ta cũng không phân biệt được đâu là dân, đâu là lính vì bọn này cải trang đem gia đình tháo chạy. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 cùng lực lượng phòng không một mặt kiên quyết bắn máy bay, lợi dụng giữa các đợt oanh kích tấn công đánh chiếm sân bay và ngoại vi thị xã, tạo thế cài răng lược, hạn chế hỏa lực của máy bay. Trong ngày, Tiểu đoàn 6 đã áp sát thị xã. Được sự chỉ đạo của đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn, Tiểu đoàn 3, quân tình nguyện đã tiêu diệt đại đội địch ở Nam Sông, thu toàn bộ vũ khí.
Để chuẩn bị tấn công vào thị xã, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 6 được tăng cường 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28, được ĐKB và cối 120 chi viện, chuẩn bị dứt điểm vào đêm 29 tháng 4 năm 1970, Tiểu đoàn 2 (-1c) làm lực lượng dự bị, sẵn sàng đánh địch phản kích từ phía bắc, đồng thời sẵn sàng 1 đại đội chi viện cho Phu-lăng-kẹo nếu bị địch phản kích Tiểu đoàn 4 nhanh chóng củng cố làm lực lượng dự bị chung.
Dưới sự chi viện của hỏa lực, 23 giờ ngày 29 tháng 4, Tiểu đoàn 6 bắt đầu tấn công vào thị xã. 2 khẩu pháo 105 ly lấy được tại Phu-lăng-kẹo dùng bắn uy hiếp vào thị xã nhưng không chính xác. Chớp thời cơ "quân hồi vô phèng" và sự hỗn loạn của dân, Tiểu đoàn 6 tổ chức thành 3 mũi tấn công vào trung tâm chỉ huy của Khăm Còm, tên này cùng đại đội văn phòng đã tháo chạy trước trong đêm, số quân ô hợp khoảng 600 tên đầu hàng tại chỗ, một số theo Khăm Còm chạy thoát trong đêm về Bô-lô-ven. Thị xã Át-tô-pơ hoàn toàn được giải phóng. Trên các hướng, cán bộ chuyên gia đã trực tiếp hướng dẫn các đơn vị bạn làm công tác địch vận, gọi hàng nhiều tên, thu được nhiều vũ khí.
Sau 2 đêm 1 ngày, vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1970, trung đoàn cùng các đơn vị quân tình nguyện và bộ đội bạn đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Át-tô-pơ, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.000 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, phương tiện chiến tranh. Hàng ngàn đồng bào các dân tộc thị xã Át-tô-pơ vẫy chào quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Ngày 2 tháng 4 trung đoàn bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm, vũ khí đạn dược, ôtô, tàu thuyền, lương thực, thuốc men cho Ban cán sự Đảng Át-tô-pơ cùng các cơ quan dân chính đảng có mặt hôm đó.
Nhận định địch chưa chịu cam tâm để mất thị xã Át-tô-pơ tạo tiền đề cho sự dao động suy sụp của quân ngụy Lào ở các thị xã khác, theo sự chỉ đạo của Sở chỉ huy cơ bản, trung đoàn chuẩn bị đánh địch phản kích trên hướng Phu-lăng-kẹo - Bô-lô-ven. Đúng như dự kiến, sáng ngày 1 tháng 5 địch dùng phi pháo oanh tạc vào căn cứ Phu-lăng-kẹo, sau đó cho 1 tiểu đoàn bộ binh đánh vào cứ điểm nhưng bị quân ta đánh bật, diệt gần 100 tên. Đại đội chốt giữ đề nghị trung đoàn tăng viện vì lực lượng địch rất đông, ở hướng bắc, trên trục đường 22 đi San Van cũng xuất hiện một lực lượng địch. Quyết tâm của trung đoàn là phải giữ bằng được Phu-lăng-kẹo làm bàn đạp tiếp tục tiến công vào trung tâm Bô-lô-ven thì mới giữ được Át-tô-pơ. Trước mắt trung đoàn sử dụng 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện, đơn vị thông thạo địa hình do đồng chí Tham mưu Trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy lên tăng cường cho Đại đội 13 tại Phu-lăng-kẹo và sẵn sàng cơ động Tiểu đoàn 2 của trung đoàn tiếp ứng sau. Trên đường lên Phu-lăng-kẹo, phát hiện khoảng 1 đại đội từ hướng Bô-lô-ven đang tiến về hướng Át-tô-pơ. Đại đội 3 bí mật triển khai phục kích, bọn địch không phát hiện được ta, lọt vào ổ phục kích, ta chủ động nổ súng xung phong, bọn địch bị bất ngờ đã bỏ súng đầu hàng, ta bắt 56 tên, thu toàn bộ vũ khí và cho giải về sau. Sáng ngày 3 tháng 5, Đại đội 3 quân tình nguyện bắt được liên lạc với Đại đội 13 tại Phu-lăng-kẹo. Lúc này địch đang dồn dập dùng phi pháo và bộ binh tấn công vào chốt Đại đội 13. Quân ta một số bị thương, số còn lại vẫn kiên quyết trụ bám, 2 khẩu pháo 105 ly lấy được của địch bị bom đánh gục. Sáng ngày 4 tháng 5, khoảng 1 tiểu đoàn địch liên tục tấn công vào chốt Đại đội 13. Đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn chỉ huy Đại đội 3 vận động bí mật tập kích vào phía sau đội hình địch. Bị bất ngờ, một số bị diệt, khoảng 2 đại đội địch còn lại tháo chạy về phía tây. Sau khi đánh tan bọn địch phản kích, Đại đội 3 cho thu quân, củng cố lực lượng vào tăng cường cho Đại đội 13.
Ngày 5 tháng 5, địch lại tập trung hỏa lực tấn công vào chốt của ta. Đại đội 3 báo cáo qua điện thoại địch quá đông nên đã chiếm mất chốt. Quyết tâm chiếm lại chốt trong đêm, trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 trong đêm bắt liên lạc với Đại đội 13 và Đại đội 3 quân tình nguyện tổ chức đánh chiếm lại chốt.
Là đơn vị đã nổi tiếng với cách đánh phản kích giữ chốt tại Đắc Xiêng, lợi dụng mây mù, Tiểu đoàn 2 bí mật tiếp cận trận địa, bắt đầu nổ súng, mãnh liệt xung phong và chỉ sau 30 phút đã tiêu diệt và đánh bật quân địch ra khỏi chốt, sau đó tổ chức củng cố công sự trận địa, giữ vững chốt. Trận này ta diệt 120 tên, thu trên 200 súng, có 3 đại liên ĐKZ, 1 cối 81 ly, 6 VTĐ. Ta truy kích địch đến PS38 (In Thi) và LS165 (Nậm Tiếng), địch tháo chạy về hướng Pặc Xông. Đến đây khu vực đông nam Bô-lô-ven thuộc Át-tô-pơ hoàn toàn được giải phóng, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 cùng Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện tiếp tục thay phiên nhau chốt giữ bảo vệ Phu-lăng-kẹo, bảo vệ vành đai vòng ngoài thị xã Át-tô-pơ suốt mùa khô 1970-1971.
Trong khi tập trung đánh địch phản công khu vực Phu-lăng-kẹo, các đơn vị còn lại của trung đoàn và các tiểu đoàn quân tình nguyện, quân giải phóng bạn tiếp tục truy quét tàn binh, giải phóng vùng rộng lớn tỉnh At-tô-pơ, ổn định tình hình, củng cố chính quyền tại các làng bản, sẵn sàng bảo vệ vững chắc vùng đông nam Hạ Lào, tiếp giáp với Việt Nam và Cam-pu-chia.
Ngày 15 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 24 được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu để lại Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 cùng lực lượng quân tình nguyện và bộ đội bạn tiếp tục củng cố vùng giải phóng, khẩn trương thu quân, vượt biên giới Lào - Cam-pu-chia nhanh chóng cơ động bằng đường sông để đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1970 trung đoàn tấn công giải phóng Xiêm Pạng, phát triến về phối hợp với lực lượng B2 giải phóng tỉnh Stung Treng (Cam-pu-chia), sau đó độc lập phát triển giải phóng tỉnh O-đa-men-chay - Prết-vi-hia, chốt giữ đến Prết-vi-hia trên biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan.
Phát huy truyền thống "quyết thắng" trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với thành tích trong chiến dịch Át-tô-pơ trung đoàn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 trực tiếp đánh địch giải phóng Át-tô-pơ, có mặt trên chiến trường đã để lại trong tôi bao kỷ niệm về tình đồng đội, về tình bạn quốc tế với lực lượng vũ trang nước bạn, về tình cảm thiêng liêng mà bà con các bộ tộc nơi đây dành cho chúng tôi.
Giờ đây, ghi lại những sự kiện và kỷ niệm này, tôi thực sự bồi hồi xúc động với những tình cảm thân thương được xây đắp bằng xương máu của quân đội và nhân dân hai nước dưới ngọn cờ bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng nên tình đoàn kết chiến đấu hữu nghị đặc biệt, tạo nên chiến thắng vĩ đại của hai dân tộc. Chúng ta sẽ mãi mãi sát cánh bên nhau trên con đường mà Bác Hồ, hai Đảng và nhân dân hai nước đã chọn.


