Giải phóng Đà Nẵng – đập tan phương án co cụm của kẻ thù
Đà Nẵng là căn cứ liên hợp lớn, một trong năm khu vực phòng thủ cơ bản trong phương án co cụm chiến lược của Mỹ - Ngụy. Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng diễn ra từ ngày 26/3 đến 29/3, trên mặt trận Quảng Đà. Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Cùng với thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, thắng lợi này làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra những điều kiện cơ bản, góp phần giải phóng Sài Gòn và miền Nam một cách nhanh chóng.
Ngày 26/3 Thừa Thiên Huế đuợc giải phóng. Trước những diễn biến mau lẹ có lợi cho ta, ngày 25/3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã hạ quyết tâm mở chiến dịch Đà Nẵng (mặt trận Quảng Đà) tiêu diệt quân địch co cụm ở Đà Nẵng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Đà, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng miền Nam. Bộ tư lệnh và Đảng ủy mặt trận Quảng Đà được thành lập lấy mật danh là “Mặt trận 475”, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy.

Quân đoàn 2 giải phóng Đà Nẵng, ngày 29-3-1975. (Ảnh Tư liệu)
Sau khi Thừa Thiên Huế thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chủ trương “tử thủ Đà Nẵng và di tản dần, nhằm bảo toàn lực lượng co về giữ đồng bằng Nam Bộ”. Lực lượng địch tại Đà Nẵng lúc này có khoảng 75.000 tên.
Cuộc tiến công đánh chiếm Đà Nẵng được tiến hành từ 4 hướng gồm: hướng Bắc, hướng Tây Bắc, hướng Nam và hướng Tây Nam:
Trên hướng Bắc, Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 đánh vào căn cứ Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ở đèo Phước Tượng. Ngày 26/3, đánh chiếm tiếp ga Thừa Lưu và Thổ Sơn. Ngày 27/3, Trung đoàn tiếp tục tổ chức đánh chiếm vào tuyến phòng thủ lâm thời của địch ở khu vực Lăng Cô, đến 20 giờ hoàn toàn làm chủ Lăng Cô, tạo bàn đạp đánh lên đèo Hải Vân và Đà Nẵng.
Trên hướng Tây Bắc theo trục đường 14, Trung Đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 từ đêm 26 gấp rút hành quân, vượt chặng đường dài ở khu vực tranh chấp. Sáng ngày 28, Trung đoàn và các đơn vị binh chủng tăng cường đã vào vị trí triển khai tiến công Ti Tu, Đá Đen. Hướng Tây Nam, Sư đoàn 304 đang phòng ngự ở Thượng Đức, tổ chức thu quân để đưa lực lượng vào triển khai tiến công. Đến ngày 28/3, Sư đoàn đã đưa lực lượng vào vị trí xuất phát tiến công, sát Đà Nẵng.

Khắp thành phố Đà Nẵng tưng bừng khẩu hiệu chiến thắng (nguồn Internet).
Tại hướng Nam, các lực lượng của Quân khu V gồm Sư đoàn 2 (được tăng cường Trung Đoàn 36), Lữ đoàn 52, Trung Đoàn 96 và lực lượng địa phương Quảng Đà… sau khi giải phóng Nam Ngãi cũng đuợc lệnh tiến công ra Đà Nẵng. Với tinh thần hết sức khẩn trương, sáng ngày 28, Trung đoàn 38 đánh tan cụm quân địch phía Bắc cầu Bà Rén, Trung đoàn 96 chiếm Duy Xuyên và Nam Phước. Đến chiều ngày 28, các đơn vị của Sư đoàn 2 và Quân khu V đã có mặt ở khu vực Bà Rén, cửa ngõ phía Nam Đà Nẵng, trước tình hình đó địch cho đánh sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu.
Như vậy từ ngày 26/3 đến ngày 28/3, trên tất cả các hướng lực lượng của ta đã cơ bản đánh chiếm xong các vị trí vòng ngoài, tạo bàn đạp cho việc tấn công giải phóng Đà Nẵng.
Sáng sớm ngày 29/3 trên hướng Bắc, Trung đoàn 18 tiến đến phía Bắc kho Liên Chiểu. 11 giờ cùng ngày, Trung đoàn chiếm được kho Liên Chiểu và đánh thẳng vào trung tâm thành phố, sau đó vượt cầu Trịnh Minh Thế phát triển ra đảo Sơn Trà và cắm cờ lên đỉnh Sơn Trà lúc 13 giờ 30 ngày 29/3.
Trên hướng Tây Bắc (đường 14) Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 do Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy đánh Thúy Tú, Đá Đan rồi đánh thẳng vào Sở chỉ huy Sư đoàn 3 của địch ở Phước Tượng. Đến 8 giờ 30 phút ngày 29/3, Trung đoàn làm chủ khu vực Phước Tượng, Hòa Khánh, sau đó phát triển chiếm Tòa thị chính Đà Nẵng và tiến ra bán đảo Sơn Trà.
Hướng Tây Nam ngày 29/3, Trung đoàn 24 đánh đuổi địch ở các điểm cao 1005, 1078 và 918 ở núi Đồng Lâm, sau đó phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 66 đánh đuổi địch ở Phú Hưng, đánh tan cụm quân địch ở Ái Nghĩa sau đó tiến vào Đà Nẵng; đến 12 giờ 30 phút, bộ đội Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Hòa Cầm, sau đó đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, hội quân với lực lượng của sư đoàn 2 ở hướng Nam đánh lên.

Quân giải phóng tiến về tiếp quản thành phố Đà Nẵng(nguồn Internet).
Trên hướng Nam, Sư đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, tổ chức vượt sông trong đêm ngày 28. Đến 5 giờ ngày 29, Trung đoàn 38 đã chiếm Vĩnh Điện và phát triển về Non Nước, sân bay Nước Mặn, rồi ra Sơn Trà gặp cánh quân của quân đoàn 2 vào 15 giờ. Trung đoàn 1 tiến thẳng vào Đà Nẵng, đánh tan cụm quân địch ở bến đò Su, sau đó phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 96, tiểu đoàn 941 và Đội biệt động Lê Độ đánh vào các mục tiêu trong thành phố. 12 giờ ngày 29/3 Trung đoàn 1 chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 1 của địch và sân bay Đà Nẵng, Trung đoàn 97 của Quân khu đánh chiếm Hội An lúc 8 giờ ngày 29, sau đó đánh địch ở An Đông, Mỹ Khê và tiến về Sơn Trà.
Được sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng tại chỗ và nhân dân, đến 12 giờ ngày 29/3, bộ đội đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu ở thành phố và đến 15 giờ ngày 29 thì chiếm lĩnh toàn bộ căn cứ liên hợp Đà Nẵng - Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng.
Đà Nẵng được giải phóng, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng trận then chốt thứ 2 đại thắng, đã làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống phòng ngự chiến lược của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại miền Trung, xóa bỏ Quân khu I, phá tan âm mưu co cụm chiến lược của địch, không để cho lực lượng đối phương rút về tăng cường phòng ngự quanh Sài Gòn, đẩy chúng vào tình trạng hoang mang, tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh đi đến thắng lợi hoàn toàn.



