Khác

GIẢI PHÓNG QUÂN HÓC MÔN - BÀ ĐIỂM - ĐỨC HÒA (11-1945 - 3-1946) (1)

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa cùng nhân dàn Gia Định - Chợ Lớn phấn khởi hân hoan kéo về Sài Gòn dự cuộc mít tinh mừng lễ tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Nôrôđôm (sau nhà thờ Đức Bà) và diễu hành biểu dương sức mạnh quật khởi của quần chúng nhân dân Nam Bộ quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của Tố quốc.

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nhưng niềm vui mừng chưa tận hưởng thì bọn thực dân Pháp được quân Anh dung dưỡng đã từ trên lầu cao bắn nhiều phát súng xuỐng đoàn biểu tình đang tuần hành làm chết một chiến sĩ và bị thương một số người. Hàng triệu người đang có mặt rất phẫn nộ và hiểu ngay rằng đây là hành động của bọn thực dân Pháp âm mưu quay trở lại xâm chiếm Đông Dương. Lập tức, đội võ trang thanh niên xung phong và quần chúng xông lên vây bắt hàng trăm tên Pháp và bọn phản động, tước súng và đưa đi giam giữ.


Gần một thế kỷ bị nô lệ, bị áp bức bóc lột đến tận xương tủy bởi thực dân Pháp rồi phát xít Nhật, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm (Gia Định), Đức Hòa (Chợ Lớn) đã vùng lên cùng nhân dân Nam Bộ bẻ gãy xiềng xích nô lệ, đánh đổ hai kẻ thù Pháp - Nhật, giành lại độc lập tự do. Nỗi vui sướng và niềm tự hào của nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa cùng toàn thể dân tộc Việt Nam trong những ngày hội non sông rạng rỡ thì bọn thực dân Pháp được quân Anh giúp sức, âm mưu quay lại xâm chiếm Đông Dương lần thứ hai.


Liên tiếp từ ngày 5 đến ngày 20 tháng 9 năm 1945, phái bộ Anh đến Sài Gòn có một đại tá và 30 sĩ quan, những ngày sau đó chúng đòi chiếm dinh hành chính Nam Bộ (tức dinh thống đốc Nam Kỳ cũ). Ngày 11 tháng 9 năm 1945, tướng Gracey đến Sài Gòn cùng theo có một đại đội lính Pháp mặc quân phục Anh cùng tên đại tá Cédille. Chúng ra lệnh thả 3.000 tù binh Pháp và trả trang bị vũ khí lấy của Nhật. Tên Cédille nhận chức thống đốc Nam Kỳ, chúng tiến hành hàng loạt vụ khiêu khích, đòi tước vũ khí của quân ta.


Ngày 18 tháng 9 năm 1945, chúng ra lệnh giới nghiêm thành phố.

Ngày 20 tháng 9 năm 1945, chúng đòi ta giao các bót cảnh sát quận 2, quận 3. Sau nhiều lần khiêu khích, lúc 12 giờ đêm 22 tháng 9 năm 1945, quân Anh - Pháp phối hợp đã tiến đánh trụ sở của ủy ban cách mạng Nam Bộ và các công sở của ta. Trước tình hình trên, sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xứ ủy và ủy ban cách mạng Nam Bộ mở hội nghị liên tịch tại trụ sở đường Cây Mai (Chợ Lớn) đã quyết định nổ súng kháng chiến và lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ do đồng chí Trần Văn Giàu làm chủ tịch, Ủy ban ra mệnh lệnh và lời kêu gọi nhân dân Sài Gòn, Chợ Lớn cùng nhân dân Nam Bộ đứng dậy cầm vũ khí bảo vệ Tổ Quốc đang lâm nguy, ra lệnh cho nhân dân tản cư gấp rút. Cuộc kháng chiến bùng nổ, quân dân ta trong khí thế hiên ngang của những người dân một nước độc lập, trong tinh thần sôi sục cách mạng, thề hi sinh tất cả chớ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Tinh thần và sức mạnh quật khởi trong Cách mạng tháng Tám của nhân dân ta, giờ đây đang sôi sục căm thù bọn giặc Pháp mưu toan cướp nước ta một lần nữa. Muôn triệu trái tim cùng hòa một nhịp đập, theo tiếng gọi của non sông, đứng lên quyết chiến đấu với quân thù.


Tại Hóc Môn, sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập chưa thể hiện được sự thống nhất ý chí nên Đảng bộ chủ trương củng cố từ Ủy ban Cách mạng lâm thời quận xuống các làng. Việc phải giải quyết trước hết là vấn đề củng cố tổ chức, phải trên tinh thần đoàn kết hợp nhất giữa các đồng chí của hai nhóm Tiền phong và Giải phóng. Ủy ban cách mạng lâm thời quận được củng cố, đồng chí Nguyễn Văn Thức được tín nhiệm bầu chính thức Chủ tịch Ủy ban hành chính, hai đồng chí Lê Phẩm Thinh và Cao Đức Luốc được bầu là Phó chủ tịch và các ủy viên khác như: Phạm Đăng Bửu (tổng thư ký), Phạm Đăng Lâm (ủy viên tài chính), Lê Thanh Châu, Lâm Minh Tường, Lâm Quanh Minh và các ủy viên khác... Ủy ban đổi tên là Ủy ban hành chính quận Hóc Môn.


Tại Bà Điểm, tổ chức Ủy ban hành chính quận Bà Điểm do đồng chí Lê Ngọc Hương (Tư Điển) làm chủ tịch. Ủy ban trực tiếp lãnh đạo các làng thuộc phía tây bắc Gò Vấp.

Tại Đức Hòa, Ban cán sự bắt đầu tiến hành một loạt công tác cấp bách. Trước tiên là củng cố kiện toàn bộ máy lãnh đạo.

Với số cán bộ mới được giải thoát từ Côn Đảo về (Trần Trung Tam, Huỳnh Văn Bằng, Trần Văn Nhà, Huỳnh Văn Đại, Thuận, Thiện, Tiểu, Bùi Văn Tranh), Đức Hòa khôi phục lại quận ủy và phân công lại một số mặt công tác.


Đồng chí Bùi Tấn Triển (Tám Tranh) được cử làm bí thư quận ủy. Đồng chí Thuận làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí Huy làm ủy viên chính trị, Huỳnh Văn Cảnh làm trưởng công an (“Quốc gia tự vệ cuộc”). Đồng chí Truyện làm ủy viên chính trị bộ đội Đức Hòa, đồng chí Tư Nhỏ chủ tịch mặt trận Việt Minh.


Sau khi được củng cố về tổ chức, quận ủy các địa phương nhanh chóng củng cố lực lượng võ trang, tự tạo, mua sắm, vũ khí, tổ chức luyện tập, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Tại Hóc Môn, quận ủy đã tổ chức 5 khu quân sự (khu 1, khu 2, khu 3, khu 4, khu 5); các khu quân sự tích cực chuẩn bị lực lượng.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #7 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2021, 07:26:12 pm »
Tại Đức Hòa, quận ủy chủ trương tăng cường củng cố lực lượng võ trang, “Tự vệ chiến đấu quân” được chuyển lên thành “chi đội giải phóng quân Đức Hòa”, do Huỳnh Văn Một làm chi đội trưởng.. Chi đội được biên chế thành 3 phân đội đóng trên từng khu vực. Sẵn sàng phát hiện và ngăn chặn quân Pháp.


Trong thời gian này vùng Gò Vấp, Hóc Môn có các lực lượng bộ đội của đồng chí Nguyễn Thược ở Phú Thọ Hòa, bộ đội của đồng chí Nguyễn Bá Bội, Nguyễn Văn Bâu ở Bà Quẹo, bộ đội của đồng chí Huỳnh Tấn Chùa ở Thuận Kiều... Bà Điểm, bộ đội của các đồng chí Tô Ký, Lý Của, Phan Văn Ngói, Cao Đức Luốc, Trần Văn Bằng, Nguyễn Minh Sanh, Lê Bình Đẳng... Ngoài ra còn nhiều bộ đội lẻ tẻ khác ở các làng.


Trong thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, quân Anh - Pháp bị quân ta bao vây chặt, các cuộc chiến đấu ở nội thành diễn ra suốt ngày đêm, ác liệt nhất là mặt trận cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Thị Nghè... quân ta diệt hàng trăm giặc Pháp và tay sai của chúng.


Được quân Anh - Ấn mở đường, giặc Pháp nống ra vùng ngoại ô phía bắc thành phố. Chúng kéo quân ra định chiếm cầu Tham Lương để làm bàn đạp đánh sâu ra vùng Bà Điểm, Hóc Môn, hòng chiếm 18 thôn Vườn Trầu, “vành đai đỏ” của thành phố. Cầu Tham Lương nằm trên quốc lộ 1 từ Sài Gòn đi Nam Vang (Cam-pu-chia) là con đường chiến lược quan trọng phía Tây Bắc thành phố.


Để ngăn chặn quân xâm lược Anh - Pháp đánh lấn ra ngoại vi thành phố, quận ủy Hóc Môn chủ trương lập các mặt trận cầu Tham Lương, cầu Bến Phân (chợ Cầu). Ngày 10-9-1945, quận ủy đã thành lập Ban chỉ huy thống nhất chiến đấu và quyết giữ các cầu này.


Sau 5 ngày đêm chiến đấu, lực lượng võ trang Hóc Môn - Bà Điểm đã giết và làm bị thương nhiều tên, ta giữ vững trận địa cầu Tham Lương không cho chúng qua.

Ở mặt trận cầu Bến Phân (chợ Cầu) do đồng chí Huỳnh Tấn Chùa chỉ huy, xung kích cảm tử ta đánh nhau ác liệt với quân Anh - Pháp đánh lấn ra, chặn đứng không cho chúng qua cầu...

Sau ngày 23 tháng 9 năm 1945, các lực lượng tự vệ, xung phong công đoàn nội thành Sài Gòn đã chiến đấu dũng cảm, bao vây ngăn chặn địch trong thành phố. Bấy giờ sư đoàn Cộng hòa vệ binh rút quân ra khỏi thành phố.


Một số đơn vị Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn cùng một số lực lượng khác như bộ đội Hồng Tảo (HT29), bộ đội Bùi Thế Phiệt... diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Những tên cầm đầu và nhiều bộ phận hoặc tự biến mình thành thổ phỉ hoặc quay về Sài Gòn đầu hàng giặc. Một bộ phận còn lại rút về Hóc Môn.


Trong thời gian đóng quân tại địa bàn Hóc Môn, Gò Vấp, bọn Đệ tam sư đoàn đã khủng bố chính quyền, cướp lương thực, thực phẩm, đoạt súng của tự vệ xã và du kích, cướp của nhân dân, bắt gái đẹp đem theo, thủ tiêu cán bộ địa phương... Còn Đệ tứ sư đoàn của Lý Hoa Vinh thì rút quân qua chợ Cầu, qua thị trấn Hóc Môn, Cây Sộp (Phước Vĩnh An) trụ lại ở xã Nhuận Đức. Chúng đã rút bộ phận tham gia mặt trận cầu Tham Lương, bắn chết 5 chiến sĩ của bộ đội đồng chí Sáu Ngói, tước vũ khí của một tiểu đội đồng chí Nguyễn Minh Sanh, chặn lấy lương thực thực phẩm của Hóc Môn gởi ra tiếp tế mặt trận. Chúng còn uy hiếp Ủy ban hành chính quận Hóc Môn đòi phải cung cấp 50 chiến sĩ tự vệ và giao nộp hết súng đạn, đến Tân Phú Trung và Trung Lập tự tiện chiếm kho thuốc của hãng thuốc Míc Pháp mà địa phương đang quản lý để đem bán lấy tiền. Đi đến đâu chúng cũng khủng bố chính quyền địa phương, cướp bóc nhân dân, bắt gái, tước vũ khí tự vệ đến đó. Dã man hơn chúng bắt anh em công nhân chở của cải cướp được đưa lên đào hầm cất giấu ở núi Cậu Dầu Tiếng, rồi giết hết số công nhân này. Vì tính chất phi nghĩa của chúng nên một số binh lính cấp dưới đồng tình làm binh biến kéo nhau nhập về Giải phóng quân.


Bộ đội Hồng Tảo (HT29) từ Gò Vấp rút về An Thành (Thủ Dầu Một) qua An Nhơn Tây (Hóc Môn) và Trảng Bàng (Tây Ninh)... Nói chung những sư đoàn bộ đội đó đều thổ phỉ hóa, không đánh giặc, chuyên đi cướp bóc, hãm hiếp, khủng bố nhân dân. Đây là một đội quân ô hợp, phi chính trị, rất phức tạp. Tại An Nhơn Tây, đồng chí Lâm Thành Hổ (vốn tham gia cách mạng từ năm 1938, được đồng chí Huỳnh Tấn Chùa cử đầu quân vào bộ đội Hồng Tảo để vận động binh sĩ mang súng trở về với cách mạng) đưa 1 tiểu đội gồm 12 người, 12 súng tách khỏi bộ đội Hồng Tảo gia nhập bộ đội Huỳnh Tấn Chùa.


Trước hành động xâm lược của giặc Pháp, với lòng yêu nước thiết tha và với khí thế hừng hực cách mạng sau ngày Tổng khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng võ trang của ta đã phát triển hết sức nhanh chóng.


Tuy nhiên, thành phần hợp thành các đơn vị võ trang khá phức tạp, hầu hết chưa có kinh nghiệm chiến đấu và thiếu trang bị, từng đơn vị hoạt động chiến đấu độc lập, thiếu chỉ huy chung, thậm: chí một số đơn vị nằm ngoài sự lãnh đạo quản lý của tổ chức Đảng và chính quyền cách mạng địa phương. Tình hình đặt ra cần có một chủ trương đúng đắn nhằm thống nhất, xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của cuộc kháng chiến.


Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ họp hội nghị mở rộng tại Thiên Hộ (Mỹ Tho), đề ra nhiệm vụ lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc kháng chiến và củng cố, xây dựng lực lượng võ trang cách mạng ở Nam Bộ, đặt lực lượng võ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Sau hội nghị mở rộng tại Thiên Hộ, Xứ ủy chỉ thị cho Gia Định: Nên thống nhất lực lượng võ trang của Đảng, tổ chức tập trung lại để đủ sức mạnh, bảo vệ Đảng, chính quyền và nhân dân, đánh được quân thù.


Cuối tháng 10 năm 1945, tại một nhà dân ở đầu “Cầu Quang” chợ Hóc Môn, một số đồng chí tỉnh ủy Giải phóng, Xứ ủy họp, trong đó có mặt các đồng chí Tô Ký, Trần Văn Trà, Cao Đức Luốc, Phan Văn Voi, Hoàng Dư Khương, Ba Súng, Năm Râu, Sáu Ngói, Phan Đức, Hoàng Tường và Ba Nhỏ (Ba Nhỏ đại điện cho Huỳnh Văn Một). Hội nghị nhận định Pháp sắp tấn công chiếm đóng Hóc Môn - Bà Điểm, các sư đoàn và bộ đội Hồng Tảo không có hành động chống giặc mà nhiễu hại nhân dân. Hội nghị đã nhất trí thành lập một lực lượng võ trang thống nhất của ba quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa với tên gọi: Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn