Anh hùng Lực lượng vũ trang

Bước ngoặt đi theo cách mạng

TP. Hồ Chí Minh28/10/2026Ngô Thị Nhàn (phường Xuân Phương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bước ngoặt đi theo cách mạng

Dương Văn Dương, thường gọi Ba Dương, sinh năm 1900. Tuổi thơ và phần lớn quãng đời trước Cách mạng Tháng Tám của ông gắn với vùng Nhà Bè, phía nam Sài Gòn. Cha mất khi ông mới còn rất nhỏ, ông mang họ mẹ và sau đó theo gia đình về sinh sống tại khu vực cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy.

Sinh trưởng trong hoàn cảnh nghèo khó, Dương Văn Dương không có điều kiện học hành lâu dài. Theo cuốn Người Bình Xuyên, thời thiếu niên, Ba Dương từng xông vào can thiệp khi thấy 5 thanh niên vây đánh một ông cụ người Hoa. Dù bị đánh tơi tả, ông vẫn được cụ nhận làm con nuôi và truyền võ nghệ. Hai năm sau, ông cụ qua đời, Ba Dương phải đi chăn vịt thuê quanh khu bến Bình Đông để kiếm sống.

Thời điểm đó, hội kín Vạn Xe khống chế các hoạt động cờ bạc, mại dâm, bảo kê, tống tiền ở Sài Gòn, thậm chí thu tiền của phu bốc vác nghèo. Ba Dương cùng một số người nhiều lần chống lại tổ chức này. Năm 20 tuổi, ông một mình đến hội sở Vạn Xe thách đấu và đánh bại một cao thủ từ Quảng Đông sang, từ đó nổi danh trong giới giang hồ.

Năm 1939, Ba Dương về cầu Rạch Đĩa, làng Tân Quy, Nhà Bè mở lớp dạy võ. Trước tình trạng giang hồ bến bãi liên tục đòi tiền bảo kê các chủ ghe, ông xuống khu ghe thuyền ở kênh Cây Khô để giải quyết. Sau nhiều lần chạm trán, Ba Dương lần lượt thu phục các nhóm giang hồ, đồng thời cho họ cơ hội lựa chọn con đường khác. Nhờ cách hành xử này mà mọi người tôn ông như thủ lĩnh của giang hồ Bình Xuyên.

Thiếu tướng Dương Văn Dương. Ảnh: Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.

Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ cuối năm 1940 và sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp đã tác động mạnh đến đời sống chính trị ở Nam Bộ. Năm 1941, Dương Văn Dương hai lần bị chính quyền thực dân bắt giữ và tra khảo. Trong thời gian bị giam, ông có dịp tiếp xúc với những người hoạt động cách mạng, qua đó hiểu thêm về phong trào đấu tranh chống thực dân. Sau khi được trả tự do, để tránh sự theo dõi, Ba Dương có thời gian lánh sang khu vực gần biên giới Việt Nam - Campuchia.

Năm 1943, ông trở lại Tân Quy. Tại đây, Dương Văn Dương được những cán bộ, đảng viên cách mạng tiếp xúc, tuyên truyền và vận động tham gia phong trào chống Pháp, Nhật. Dương Văn Dương nhận thầu bảo vệ một bãi chứa gỗ của hãng đóng tàu Nhật tại Sài Gòn. Cơ sở này vừa tạo điều kiện sinh sống, vừa trở thành địa điểm thuận lợi để ông liên hệ, tập hợp người và cất giấu vũ khí.

Nhờ những mối quan hệ có sẵn, Ba Dương vận động nhiều người tham gia lực lượng. Những nhóm vũ trang vốn hoạt động tương đối độc lập trong vùng Nhà Bè dần có sự liên hệ chặt chẽ hơn. Nhiều người đứng đầu các nhóm này sau đó trở thành những chỉ huy dưới quyền ông.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương. Bộ máy cai trị của thực dân Pháp sụp đổ nhanh chóng, tình hình chính trị thay đổi mạnh. Trong thời gian này, Dương Văn Dương cùng lực lượng của mình tích cực tìm kiếm và tích trữ vũ khí, chuẩn bị cho thời cơ mới. Đến đầu tháng 8/1945, lực lượng dưới quyền Ba Dương đã có hàng chục người được trang bị súng. Đây là lực lượng vũ trang đáng kể tại khu vực Nhà Bè trong những ngày trước Tổng khởi nghĩa.

Người chỉ huy lực lượng vũ trang Nhà Bè đến Bộ đội Bình Xuyên

Tháng 8/1945, khi thời cơ Tổng khởi nghĩa đến, thông qua các cơ sở cách mạng ở Nhà Bè, Dương Văn Dương nhận được chủ trương tham gia giành chính quyền. Ông bí mật tập hợp những người đứng đầu các nhóm vũ trang, phổ biến kế hoạch và phân công nhiệm vụ. Lực lượng của Ba Dương cùng các nhóm vũ trang trong vùng tham gia chiếm lĩnh một số vị trí ở Sài Gòn, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám tại Nam Bộ.

Sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, tình hình ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam vẫn vô cùng phức tạp. Nguy cơ thực dân Pháp quay lại xâm lược ngày càng rõ. Trong bối cảnh đó, nhu cầu tập hợp, tổ chức các lực lượng vũ trang trở thành nhiệm vụ cấp bách.

Tại Tân Quy, Dương Văn Dương tổ chức lực lượng mang tên Thanh niên cảm tử đoàn. Với uy tín của mình, ông tiếp tục vận động các nhóm vũ trang ở Nhà Bè và vùng phụ cận tập hợp thành một lực lượng chung.

Tướng Dương Văn Dương trực tiếp chỉ huy các đơn vị ở Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông. Ảnh: Tư liệu.

Từ đây, tên gọi Bộ đội Bình Xuyên xuất hiện. Bình Xuyên vốn là tên một địa danh thuộc vùng Chánh Hưng. Tên gọi này sau đó được dùng để chỉ lực lượng vũ trang do Dương Văn Dương đứng đầu.

Điều đáng chú ý là Bộ đội Bình Xuyên thời kỳ đầu kháng chiến không phải một lực lượng hoàn toàn đồng nhất về xuất thân. Trong hàng ngũ có những người lao động nghèo, thanh niên yêu nước, những người từng thuộc các nhóm giang hồ và cả những người trước đó sống ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thuộc địa. Dưới ảnh hưởng của phong trào cách mạng, những lực lượng này từng bước được tập hợp và tổ chức để tham gia chiến đấu chống quân Pháp.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nhiều vị trí ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh tái xâm lược Nam Bộ. Nhân dân Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến trong tình thế lực lượng, vũ khí và tổ chức còn rất thiếu thốn. Các mặt trận bao vây Sài Gòn nhanh chóng được hình thành. Ở phía nam thành phố, Mặt trận số 4 phụ trách địa bàn từ Bình Đông, cầu Chữ Y đến Tân Thuận, Thủ Thiêm và vùng phụ cận.

Dương Văn Dương trực tiếp chỉ huy các đơn vị ở Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông, đồng thời đảm nhiệm hoạt động trinh sát, nắm tình hình quân Pháp. Đến tháng 11/1945, ông được giao làm Chỉ huy trưởng Mặt trận số 4.

Trong những tháng đầu Nam Bộ kháng chiến, quân Pháp tìm cách mở rộng phạm vi kiểm soát từ trung tâm Sài Gòn ra vùng ngoại vi. Các đơn vị kháng chiến liên tục tổ chức phục kích, tập kích, đánh vào những đoàn quân và phương tiện vận chuyển của đối phương. Một trong những trận đánh thường được nhắc đến của lực lượng Bình Xuyên thời kỳ này là trận Cây Khô trên tuyến sông Lòng Tàu.

Dương Văn Dương trực tiếp tham gia chỉ huy lực lượng phối hợp phục kích đoàn tàu của quân Pháp. Sau trận đánh, lực lượng kháng chiến thu được phương tiện vận tải cùng lương thực, thực phẩm và vũ khí. Thành tích của lực lượng Bình Xuyên được Khu trưởng Nguyễn Bình ghi nhận. Tuy nhiên, trước ưu thế quân sự của Pháp, các mặt trận bao quanh Sài Gòn dần gặp khó khăn. Dương Văn Dương phải cho lực lượng rút khỏi những vị trí không còn giữ được, chuyển về Phước An, Long Thành và khu vực Rừng Sác để củng cố.

Trở thành Khu bộ phó Khu 7 cùng chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ

Cuối năm 1945, yêu cầu thống nhất lực lượng vũ trang Nam Bộ trở nên cấp thiết. Trước đó, các lực lượng kháng chiến hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tổ chức chưa thống nhất, phạm vi hoạt động và cách chỉ huy cũng khác nhau. Trung ương cử ông Nguyễn Bình vào Nam với nhiệm vụ góp phần thống nhất, tổ chức lực lượng quân sự để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.

Ngày 10/12/1945, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng quyết định tổ chức lại chiến trường thành các khu. Khu 7 gồm Sài Gòn và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ. Bộ Chỉ huy Khu 7 được thành lập, Nguyễn Bình giữ chức Khu bộ trưởng. Dương Văn Dương được giao làm Khu bộ phó.

Giữa tháng 12/1945, Nguyễn Bình đến sở chỉ huy của lực lượng Bình Xuyên tại Phước An, trực tiếp trao quyết định cho Ba Dương. Việc Dương Văn Dương được giao giữ cương vị Khu bộ phó Khu 7 cho thấy lực lượng do ông chỉ huy đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống quân sự cách mạng ở miền Đông Nam Bộ. Các đơn vị Bình Xuyên sau đó được tổ chức lại thành những chi đội. Dương Văn Dương đồng thời đảm nhiệm vai trò chỉ huy một số đơn vị chủ lực.

Ngày 1/1/1946, theo chỉ đạo của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương trực tiếp chỉ huy lực lượng tham gia tập kích quân Pháp tại thị xã Biên Hòa. Các đơn vị được bố trí theo nhiều hướng, có lực lượng tiến công chính, lực lượng phối hợp và bộ phận nghi binh. Đây là một trong những trận đánh lớn trong thời gian ngắn ngủi Dương Văn Dương giữ chức Khu bộ phó Khu 7.

Lúc này, chiến sự không chỉ diễn ra quyết liệt ở miền Đông Nam Bộ. Tại miền Tây, quân Pháp cũng liên tục mở các cuộc tiến công, chiếm đóng những địa bàn quan trọng. Đầu năm 1946, tình hình tại Bến Tre trở nên đặc biệt khó khăn. Phòng tuyến An Hóa - Giao Hòa bị uy hiếp. Khu 8 đề nghị Khu 7 chi viện lực lượng. Dương Văn Dương được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng xuống miền Tây hỗ trợ chiến trường Bến Tre.

Ba Dương tổ chức một hội nghị quân sự tại Rạch Su để chuẩn bị kế hoạch. Năm đại đội có khả năng chiến đấu tốt được chọn thành lực lượng liên quân. Ông trực tiếp đảm nhiệm vai trò chỉ huy trưởng.

Hy sinh tại Bến Tre và được truy phong Thiếu tướng

Đầu tháng 2/1946, lực lượng do Dương Văn Dương chỉ huy rời căn cứ, tiến xuống miền Tây. Trong điều kiện giao thông đường bộ bị quân Pháp kiểm soát nhiều nơi, đoàn quân chủ yếu di chuyển bằng đường thủy. Họ phải vượt qua hệ thống sông rạch dày đặc, tránh các đồn bốt và những cuộc tuần tra của đối phương.

Từ miền Đông, lực lượng vượt sông Soài Rạp, qua khu vực Bình Phục Nhất, Chợ Gạo rồi vượt Cửa Tiểu tiến về Bến Tre. Cuộc hành quân diễn ra trong bối cảnh quân Pháp đã mở rộng phạm vi kiểm soát. Khi lực lượng của Ba Dương tiến gần Bến Tre, tình hình mặt trận An Hóa - Giao Hòa đã thay đổi bất lợi.

Đoàn quân tiếp tục di chuyển về xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm để hội quân với các lực lượng tại địa phương và bàn phương án chiến đấu. Tại Châu Bình, tình thế nhanh chóng trở nên nguy hiểm khi quân Pháp tổ chức bao vây, tiến công.

Kênh đào mang tên vị tướng Dương Văn Dương vùng Đồng Tháp Mười dài 45km. Ảnh: Duy Thanh

Tình thế nguy cấp, một cán bộ tham mưu đưa ông Dương Văn Dương xấp giấy thuế thân, đề nghị ông cùng các chỉ huy chủ chốt giả dạng thường dân để thoát thân, bảo toàn lực lượng. Bất ngờ, ông xé vụn xấp giấy rồi nói: “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn”.

Quân Pháp sử dụng hỏa lực mạnh, trong đó có máy bay, đánh vào khu vực trú quân. Dương Văn Dương vừa quan sát tình hình, vừa trực tiếp chỉ huy các đơn vị đối phó. Ngày 17/2/1946, ông trúng đạn và hy sinh tại Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (cũ), khi ấy ông 46 tuổi.

Thi hài ông được đồng đội và nhân dân địa phương an táng tại Bến Tre. Sau ngày đất nước thống nhất, hài cốt của ông được cải táng về Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi nhận tin Dương Văn Dương hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Khu 7, chia buồn với gia đình ông. Tên tuổi của Ba Dương tiếp tục được nhắc đến trong các lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ.

Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một tuyến kênh lớn ở Đồng Tháp Mười. Tuyến kênh dài hàng chục kilômét, về sau trở thành một địa danh quen thuộc của vùng. Một đơn vị quân đội cũng được mang tên ông: Trung đoàn 300 - Trung đoàn Dương Văn Dương. Năm 1948, Chính phủ công nhận Dương Văn Dương là liệt sĩ và truy phong quân hàm Thiếu tướng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn