Bài viết

Giang Văn Thành – người đại đội trưởng 19 tuổi ở chiến trường Quảng Trị

Quảng Trị10/08/2026Nguyễn Tiến Sắc (Đoàn UBND tỉnh)17 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu năm 1972, khi nhiều thanh niên cùng trang lứa vẫn đang học tập và chuẩn bị cho cuộc sống phía trước, Giang Văn Thành, quê huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Ngày 3/1/1972, chàng trai sinh năm 1954 được biên chế vào Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320B. Sau thời gian huấn luyện, đơn vị được bổ sung vào chiến trường Quảng Trị. Đến trung tuần tháng 6, Trung đoàn 64 có mặt tại Mặt trận Cánh Đông Quảng Trị.

Giang Văn Thành bước vào chiến trường khi tuổi đời chưa đầy 19. Ngày 3/7/1972, ông cùng đơn vị tham gia trận chiến ác liệt đầu tiên. Đây là cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng đối phương trong điều kiện hai bên giáp chiến ở cự ly gần. Sau trận đánh, đơn vị tiếp tục được giao những nhiệm vụ mới trong khu vực Triệu Phong.

Một trong những trận đánh được ông nhớ rõ diễn ra vào đêm 13/7/1972. Từ khu vực chợ Sãi, Giang Văn Thành cùng một tổ chiến đấu nhỏ gồm những người lính mang theo B41, súng AK và lựu đạn bí mật tiếp cận sở chỉ huy Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến tại làng Bích La Hậu, xã Triệu Tài.

Đường tiếp cận không hề dễ dàng. Tổ chiến đấu phải di chuyển trong đêm qua địa hình trống trải, tránh sự phát hiện của đối phương. Đến khoảng 3 giờ sáng 14/7, họ xác định được mục tiêu. Ba quả đạn B41 lần lượt được bắn vào vị trí đã chọn, sau đó là lựu đạn và hỏa lực AK. Hoàn thành nhiệm vụ, cả tổ nhanh chóng men theo sông Vĩnh Định trở về điểm tập kết. Theo thông tin được báo về sau trận đánh, cuộc tập kích làm 23 đối phương thiệt mạng và 7 người bị thương, trong đó có tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó.

Trận đánh ấy có ý nghĩa quan trọng đối với nhiệm vụ bảo vệ khu vực phía đông Thành Cổ. Từ những trận luồn sâu như vậy, các đơn vị Trung đoàn 64 tiếp tục tổ chức những tổ chiến đấu nhỏ, cơ động và đánh vào phía sau đội hình đối phương thay vì chỉ phòng thủ một cách thụ động.

Khả năng chiến đấu và chỉ huy của người chiến sĩ trẻ Giang Văn Thành nhanh chóng được cấp trên ghi nhận. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông lần lượt được giao các cương vị tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi đại đội trưởng. Đến tháng 11/1972, khi mới 19 tuổi, ông được giao chỉ huy Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 64.

Đại đội 6 sau đó trở thành lực lượng bám giữ chốt Long Quang, thuộc khu vực Triệu Trạch. Đây là vị trí quan trọng vì án ngữ tuyến đường từ Thành Cổ xuống Cửa Việt. Địa hình Long Quang khác hẳn khu vực Thành Cổ: trống trải, nhiều cồn cát và ít cây cối. Vì vậy, đơn vị phải xây dựng hệ thống công sự, giao thông hào liên hoàn để có thể vừa phòng thủ vừa cơ động khi đối phương tiến công.

Ngày 17/11/1972, đối phương dùng hỏa lực mạnh đánh chiếm một phần trận địa Long Quang. Giang Văn Thành cùng Đại đội phó Nguyễn Văn Hà và Chính trị viên Nguyễn Bá Lư tổ chức phản kích. Đơn vị sử dụng cối 60mm và các loại hỏa lực khác để chế áp phía sau đội hình tiến công. Đến gần 14 giờ, lực lượng của ông giành lại được trận địa.

Long Quang sau đó trở thành một “chốt thép”. Có ngày đơn vị phải chống đỡ tới 5 đợt tiến công với sự yểm trợ của xe tăng, pháo binh và không quân. Đối với những người lính trẻ, mỗi ngày ở chốt là một ngày phải sống trong công sự, liên tục sửa chữa trận địa và sẵn sàng chiến đấu.

Đáng nhớ hơn cả là câu chuyện về tình đồng đội của Giang Văn Thành. Đêm 1/12/1972, ông cùng một số cán bộ, chiến sĩ đi trinh sát khu vực làng Linh An, xã Triệu Trạch thì bị đối phương phục kích. Một đồng đội bị thương nặng và không thể tự trở về. Phát hiện người đồng đội chưa ra khỏi khu vực nguy hiểm, Giang Văn Thành quay lại giữa bom đạn, tìm thấy và cõng người bị thương về tuyến sau. Câu chuyện ấy sau này được đồng đội nhắc lại như một biểu hiện rõ nét về nguyên tắc không bỏ đồng đội giữa chiến trường.

Từ một binh nhất mới nhập ngũ đầu năm 1972, Giang Văn Thành đã trở thành đại đội trưởng khi tuổi đời mới 19. Ông tiếp tục chiến đấu tại Quảng Trị cho đến đầu năm 1973, trong đó có trận tham gia lấy lại khu vực cảng Cửa Việt trước thời điểm Hiệp định Paris được thực hiện.

Chiến tranh kết thúc, Giang Văn Thành trở thành một trong những nhân chứng còn sống của chiến trường Quảng Trị. Nhiều năm sau, ông vẫn trở lại những địa danh từng chiến đấu, gặp lại đồng đội và tìm kiếm hài cốt những người đã nằm xuống.

Câu chuyện của ông đặc biệt ở chỗ: chiến tranh đã đưa một thanh niên 18 tuổi từ miền Bắc vào Quảng Trị, rồi chỉ trong chưa đầy một năm biến anh thành một người chỉ huy trận địa. Phía sau những quân hàm và danh hiệu sau này là một chàng trai từng trực tiếp bò qua đồng trống trong đêm, mang B41 tiếp cận mục tiêu, sống trong công sự Long Quang và quay lại giữa bom đạn để cứu đồng đội.

Đó cũng là một phần chân thực của chiến tranh Quảng Trị năm 1972 – nơi tuổi trẻ của cả một thế hệ được thử thách trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn