Giao lưu nhân chứng lịch sử
Giao lưu nhân chứng lịch sử
NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG PHAI TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG HÀNH QUÂN
Tháng 1 năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến trường khi ấy dần thay đổi. Đến năm 1974, quân ta đã giải phóng được một phần Quảng Trị, trong khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng suy yếu, không còn đủ khả năng tổ chức tiếp viện như trước. Ai cũng cảm nhận được cuộc chiến đang đi đến hồi kết.
Năm đó, bác Vũ vừa tròn 18 tuổi, đang học lớp 10 theo hệ 10/10 của miền Bắc. Trong đợt tuyển quân năm 1974, dù chỉ cao khoảng 1m56, nặng chưa đầy 36kg, bác vẫn viết đơn xin nhập ngũ. Hội đồng Nghĩa vụ quân sự lúc đầu còn đắn đo, nhưng trước quyết tâm của lòng yêu nước ấy, cuối cùng bác cũng được chấp thuận.
Sau ba tháng huấn luyện tăng cường, bác Vũ lên đường vào Nam. So với những chuyến hành quân trước,giờ đây bộ đội chủ yếu hành quân bằng xe cơ giới vì quân ta khi ấy đã giải phóng được nhiều vùng. Từ Bắc vào Nam, những đoàn xe chở quân nối đuôi nhau dài dọc các tuyến đường. Bác nhớ lại, khi ấy trong lòng chỉ có một cảm giác rất rõ: háo hức và tin tưởng.
“Đường Trường Sơn mùa khô bụi lắm,” bác kể. “Xe chạy tới đâu bụi bay mù mịt tới đó. Ban đêm chỉ được bật đèn gần, không dám bật đèn xa vì sợ máy bay địch quay lại ném bom. Chạy suốt đêm, sáng ra dừng ở trạm Ninh Động, ai cũng phủ dày lớp bụi vàng mịn từ đầu đến chân. Chỉ khi cười mới thấy hàm răng trắng, lúc đó mới nhận ra nhau.”
Vào đến chiến trường, bác Vũ được biên chế về Sư đoàn 320A thuộc Quân đoàn 3, đóng quân ở Tây Nguyên – chiến trường B3. Tháng 3 năm 1975, trong Chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 320 cùng Sư đoàn 10 làm nhiệm vụ nghi binh, bí mật áp sát quân địch. Ta xác định Tây Nguyên là vị trí rất quan trọng, ai làm chủ được nơi này sẽ nắm thế chủ động của cả cuộc chiến.
Khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra, quân ta đánh hiệp đồng nhiều binh chủng cùng lúc. Những vũ khí, hỏa lực mạnh được đưa vào sử dụng khiến đối phương hoàn toàn bất ngờ. Chỉ trong vòng 13 ngày, quân ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc ấy không còn đủ khả năng phản công, buộc phải rút quân.
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1976, bác Vũ được cử ra Bắc học tại Học viện Quân y. Tuy nhiên, khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, thời gian học tập được rút ngắn để bác và nhiều đồng đội sớm ra trường, kịp thời bổ sung lực lượng quân y cho chiến trường. Sau này, vào khoảng những năm 1982–1984, bác may mắn được tham gia Ban chuyên gia quân y của Đoàn 478, làm nhiệm vụ tại Campuchia.
Khi được hỏi: “Bây giờ nhìn lại, thấy đất nước hòa bình và phát triển như hôm nay, bác cảm thấy thế nào?” bác Vũ im lặng một lúc rồi nói chậm rãi. Bác bảo, vui thì có vui, tự hào thì rất tự hào, nhưng cũng hay chạnh lòng. “Vui vì con cháu mình được sống trong hòa bình, không còn bom đạn. Nhưng mỗi khi nghĩ tới mấy anh em nằm lại ngoài chiến trường, lại thấy thương nhiều lắm. Các anh ấy không kịp thấy đất nước mình đổi thay như bây giờ.”
Bác nói, ngày xưa ra trận chẳng nghĩ gì cao xa, chỉ mong đánh xong để đất nước yên bình, để thế hệ sau không phải cầm súng nữa. “Giờ nhìn đường sá, nhà cửa, trường lớp mọc lên, thấy mình đi qua chiến tranh cũng đáng,” bác cười. Điều bác mong nhất là lớp trẻ hôm nay hiểu được hòa bình quý giá thế nào, biết trân trọng quá khứ và cố gắng học tập, làm việc để đất nước ngày một tốt hơn.
Câu chuyện của bác Vũ khép lại nhẹ nhàng như thế. Không ồn ào, không hào hùng, nhưng đủ để người nghe hiểu rằng, phía sau cuộc sống bình yên hôm nay là cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh với tất cả tuổi trẻ, niềm tin và sự hy sinh.



