Bài viết

GIÁO SƯ- ANH HÙNG LAO ĐỘNG TRẦN ĐẠI NGHĨA

Quảng Trị01/12/2025Đoàn xã Triệu Cơ (Đoàn xã Triệu Cơ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, tháng 6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang Pháp với tư cách là khách mời danh dự của Chính phủ Pháp. Người tranh thủ cơ hội này để kéo dài thời gian hòa hoãn nhằm chuẩn bị cho toàn dân bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người tranh thủ gặp gỡ các chính khách Pháp có cảm tình với cách mạng Việt Nam và gặp các nhân sĩ trí thức người Việt đang làm việc và học tập tại Pháp. Trong số trí thức người Việt có Phạm Quang Lễ, một kỹ sư trẻ cần cù, thông minh, giàu nghị lực.

Những ngày được gặp và tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Paris, Phạm Quang Lễ càng hiểu sâu sắc hơn về tài đức của Người. Ông đã trình bày với Người nhiều kiến thức về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học quân sự, về những hiểu biết xung quanh Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong hàng nghìn người Việt Nam sang Pháp du học, có lẽ chỉ duy nhất Phạm Quang Lễ có quyết tâm nghiên cứu về vũ khí. Song đây là lĩnh vực bí mật và cấm tuyệt đối người dân các nước thuộc địa. Chỉ cần để lộ ra ý định này, ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp. Trong 11 năm học tập và làm việc ở Pháp, ông chỉ có thể tự mò mẫm và bí mật học hỏi, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí. Và ông quyết định trở về Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phụng sự Tổ quốc.

Ngày 20/10/1946 con tàu cập bến cảng Hải Phòng, Bác Hồ và đoàn tùy tùng về đến quê hương đất nước sau chuyến đi dài lênh đênh trên sóng đại dương. Đón Bác và các thành viên có đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Công an cách mạng chào đón ngày vui mừng trở về. Những tiếng reo hò: “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” dậy lên khắp nơi. Trong lòng chàng trai trẻ Phạm Quang Lễ có gì đó nghẹn ngào khó diễn tả. Ông tự nhủ lòng phải làm gì đó để góp phần xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của người dân đã dành cho mình.

Sau thời gian một tuần nghỉ ngơi, Phạm Quang Lễ được phân công vào Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng. Đầu tháng 11/1946, ông đã có mặt tại xưởng Giang Tiên ở Thái Nguyên. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Duy Thái, phụ trách Nha Giám đốc binh công xưởng (sau này là Thiếu tương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng) và đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trước đó, đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã đưa về đây một khẩu súng Bazooka và hai quả đạn của Mỹ, để anh em nghiên cứu chế tạo. Đây là một loại đạn còn mới lạ, anh em chưa am hiểu, thì may mắn có chuyên gia từ Pháp về. Phạm Quang Lễ cùng anh em tháo đạn ra nghiên cứu. Khó khăn nhất là phần thuốc, cả thuốc nổ đầu đạn và thuốc đẩy của hỏa tiễn, ta đều không có. Ta chỉ có thuốc nổ đạn đại bác của Pháp, nhưng hình dạng và thành phần không giống Bazooka. Hơn một tuần tìm hiểu nghiên cứu, đã tìm ra được lý thuyết, từ đó thiết kế chế thử loại thuốc đẩy hình ống cho hỏa tiễn Bazooka, kết quả thử nghiệm loạt đầu mang lại kết quả tốt. Con đường chế tạo ra Bazooka được mở ra. Qua ba tuần nghiên cứu chế tạo, Phạm Quang Lễ và anh em đã chế tạo được hai khẩu súng và sáu quả đạn. Xưởng tổ chức bắn thử, kết quả, khi bắn đạn đi rất tốt, trúng mục tiêu, nổ to, nhưng độ xuyên thủng không đạt yêu cầu như đạn của Mỹ. Phạm Quang Lễ và anh em nghĩ có thể do sai sót kỹ thuật trong quá trình gia công. Ông cho gia công lại chóp nón trên máy đập, đảm bảo độ dày khoảng một milimet rưỡi. Rồi đưa đi bắn thử, kết quả đạt yêu cầu, tương đương tính năng đạn Bazooka của Mỹ. Từ kết quả này, Phạm Quang Lễ đã hướng dẫn chi tiết cho tổ kỹ thuật do đồng chí Phạm Văn Gián phụ trách để tiếp tục gia công chế thử Bazooka, lúc này để giữ bí mật đã được ký hiệu là B60 (đường kính đầu đạn 60mm).

Cuối tháng 11/1946, Phạm Quang Lễ nhận được lệnh trở về gặp Bác Hồ. Sau này, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa hồi tưởng lại: “Sáng ngày 5 tháng 12 năm 1946, một ngày lịch sử mà tôi ghi nhớ mãi, đúng hai tuần trước khi cuộc toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Bác Hồ gọi tôi đến Bắc Bộ Phủ. Đúng bảy giờ sáng tôi có mặt. Cũng như ngày nào ở thành phố Lion, chỉ có Bác và tôi. Bác bảo tôi: “Kháng chiến toàn quốc sắp tới nơi, Bác giao chú nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho Bộ đội. Đây là việc đại nghĩa, vì thế Bác đặt tên chú là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng là giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam. Bác tin chắc chú sẽ làm tròn nhiệm vụ”. Và Bác căn dặn thêm: “Chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân, chú vừa phải lo vũ khí cho Bộ đội chính quy, vừa phải lo cho Dân quân du kích. Phải giúp đỡ tạo điều kiện cho nhân dân tự làm ra vũ khí tại chỗ như mìn, lựu đạn… để đánh giặc, như kinh nghiệm chiến tranh thế giới lần thứ hai mà chú đã biết. Chiến tranh sẽ qua ba giai đoạn, phải đi trước, chuẩn bị vũ khí cho từng giai đoạn. Phải mở lớp đào tạo về vũ khí và chuyên môn cho anh em”. Như vậy, Kỹ sư Phạm Quang Lễ mang tên Trần Đại Nghĩa kể từ ngày 5/12/1946. Tên khai sinh Phạm Quang Lễ do cha, mẹ đặt, chỉ còn trong lý lịch cán bộ, được giữ kín suốt hai cuộc kháng chiến, cho đến ngày đất nước thống nhất. Đối với ông, tên Trần Đại Nghĩa do Bác Hồ đặt có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, không chỉ cho bản thân ông, mà cho con cháu mãi về sau. Vì vậy, tất cả những người con của ông đều mang họ Trần.

Sau đó, Trần Đại Nghĩa cùng anh em tiếp tục tu sữa, hoàn chỉnh bản vẽ chi tiết và bản hướng dẫn chế tạo Bazooka (B60) để chuyển đến các xưởng quân giới ở Việt Bắc triển khai thực hiện. Ông còn mở các lớp đào tạo về vũ khí, những nội dung bài giảng của ông vừa cơ bản vừa thiết thực, được ông chắt lọc và đúc kết từ kinh nghiệm bản thân, qua một thời gian dài tự nghiên cứu, tìm hiểu ở Pháp và Đức. Đó là những lý luận đầu tiên giúp cho cán bộ tự nghiên cứu tự học, tự nâng cao trình độ. Năm 1949, Trần Đại Nghĩa được giao thêm trọng trách Cục trưởng Cục Pháo binh. Ông đã cùng các ông Hoàng Đình Phu, Nguyễn Phước Hoàng và cán bộ Nha Nghiên cứu Quân giới mở lớp đào tạo sĩ quan pháo binh đầu tiên của quân đội ta.

Sau thành công đầu tiên, Trần Đại Nghĩa tiếp tục mày mò nghiên cứu để chế tạo thêm vũ khí đánh giặc. Ông được mệnh danh là “Ông vua vũ khí” của Việt Nam, được phong hàm Thiếu tướng trong đợt phong hàm tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (năm 1948). Đối với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, việc được phong hàm thiếu tướng là vinh dự rất lớn. Thực tiễn kháng chiến của dân tộc Việt Nam đã hun đúc, rèn luyện người trí thức yêu nước Trần Đại Nghĩa từ một kỹ sư trẻ trở thành vị tướng quân đội tài năng, đức độ, người giữ trọng trách cao nhất của ngành Quân giới Việt Nam.

Quê hương Vĩnh Long tự hào là vùng đất sinh ra ông, Tổ quốc và nhân dân mãi ghi nhớ công lao và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa. Cả cuộc đời của ông đã hy sinh vì sự nghiệp thiêng liêng của Tổ Quốc, thật xứng với tên Bác Hồ đã đặt cho ông là Trần Đại Nghĩa.

Nguồn: (Cổng thông tin tỉnh Vĩnh Long).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn