Giáo sư, bác sĩ Đặng Văn Ngữ: Cống hiến hết mình cho tổ quốc: Hòa mình vào kháng chiến
Đặng Văn Ngữ
Trong suốt gần 10 năm học tập, làm việc tại Nhật, ông luôn đau đáu nghĩ về đất nước. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã từ bỏ việc ở lại Nhật với mức đãi ngộ cao, nhất quyết trở về với Hồ Chủ tịch, với cuộc kháng chiến giành độc lập của Việt Nam. Đó không chỉ là quyết định của lý trí, mà còn là sự lựa chọn từ trái tim – chọn về với đồng bào, chọn đứng về phía cuộc đấu tranh giành độc lập.
Sau hành trình xuyên Lào và vượt Trường Sơn, cuối tháng 12/1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã về đến Liên khu IV và được tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những nghiên cứu của mình. Tết Nguyên đán năm 1950, trong bối cảnh kháng chiến gian khổ, một ngôi chùa nhỏ ở Yên Thành được sửa sang, cải tạo để trở thành phòng thí nghiệm – nơi thai nghén những thành tựu đầu tiên của ngành dược học kháng chiến Việt Nam.
Chính tại đây, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã bắt đầu hành trình nghiên cứu và sản xuất kháng sinh trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Thiếu cân tiểu ly thì khắc phục bằng việc so thể tích, lấy mễ kê làm bàn, lấy ống tre thay cho ống nghiệm (eprouvette), trụ (cylinder) là những ống sậy... Ba lọ Penicillin bột đã ra đời, mỗi lọ chừng hai vạn đơn vị là thành quả sau.
Chứng minh rằng với những nguyên vật liệu của xứ nhà, với những phương tiện tầm thường, chúng tôi đã làm được bột Penicillin tiêm: Sáu vạn đơn vị Penicillin sản xuất trong tháng 5/1950.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên và GS. Hồ Đắc Di, bác sĩ Đặng Văn Ngữ lên chiến khu Việt Bắc phụ trách phòng thí nghiệm của Đại học Y khoa.
Dưới bàn tay của ông, những thiết bị y tế thô sơ Đại học Y khoa được cải tiến, thuốc kháng sinh tự điều chế từ nguyên liệu trong rừng được sản xuất. Tuy nhiên, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã nhận thấy việc sản xuất Penicillin kết tinh (bột) là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. Ông và các giáo sư của trường Đại học Y khoa đều nhận thấy nước lọc Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin bột nếu dùng để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng.
Các lớp học điều chế nước lọc Penicillin nhanh chóng được tổ chức, thu hút bác sĩ, dược sĩ, sinh viên và dược tá tham gia. Tận dụng nước thân cây ngô giàu glucose – nguyên liệu sẵn có trong dân – các mẻ nấm được nuôi cấy đều đặn từ giống của phòng thí nghiệm. Đây là sáng kiến phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, khi phương tiện, hóa chất khan hiếm. Chỉ sau hai tuần huấn luyện, học viên có thể thành thạo quy trình sản xuất Penicillin. Song song với đào tạo trực tiếp, tập san Penicillin được phát hành hằng tháng, góp phần lan tỏa kiến thức từ phòng thí nghiệm đến các cơ sở y tế địa phương.
Trong điều kiện rừng núi khắc nghiệt, không có phòng sạch, không có thiết bị hiện đại, việc nuôi cấy nấm mốc để chiết xuất nước lọc Penicillin là điều tưởng như không tưởng. Nhưng chính trong gian khổ, tinh thần sáng tạo và lòng yêu nước của ông và đồng đội đã tạo nên kỳ tích và có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Pháp. Nhờ đó, nhiều thương binh được cứu chữa kịp thời, tránh khỏi nguy cơ phải cắt cụt tay chân.
Ông không chỉ là nhà khoa học mà còn là một người thầy tận tâm. Lớp lớp sinh viên y khoa ở chiến khu đã được ông giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu trong điều kiện tối thiểu. Không ai từng gặp ông trong kháng chiến lại không ấn tượng với một dáng người nhỏ, ánh mắt hiền lành nhưng cương nghị, chiếc kính tròn và nụ cười luôn ấm áp.


