Bài viết

GIÁO SƯ BÁC SĨ NGUYỄN VĂN HƯỞNG: NGƯỜI THẦY THUỐC CỦA NHÂN DÂN, NGƯỜI CHIẾN SĨ CỦA THỜI ĐẠI

Trong dòng chảy lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, có những con người thầm lặng nhưng đóng góp của họ đã để lại dấu ấn sâu bền cho sự nghiệp y tế và kháng chiến. Một trong những nhân vật tiêu biểu ấy là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (1906–1998) – người được xem như một trong những người đặt nền móng cho ngành y tế cách mạng Việt Nam, từ thời hoạt động bí mật đến giai đoạn kiến thiết, xây dựng nền y học mới.

TP. Hồ Chí Minh28/01/2026Trần Thục Đoan (Đoàn xã Tân Nhựt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, có những con người thầm lặng nhưng đóng góp của họ đã để lại dấu ấn sâu bền cho sự nghiệp y tế và kháng chiến. Một trong những nhân vật tiêu biểu ấy là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (1906–1998) – người được xem như một trong những người đặt nền móng cho ngành y tế cách mạng Việt Nam, từ thời hoạt động bí mật đến giai đoạn kiến thiết, xây dựng nền y học mới.

Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, tên khai sinh là Nguyễn Thành Tâm, sinh ngày 22–12–1906, quê quán tại xã Mỹ Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang), ông tốt nghiệp tiến sĩ y khoa tại Pháp năm 1932, ông tham gia hoạt động cách mạng năm 1945, vào Đảng cộng sản ngày 3-7-1953. Năm 1945, Thành viên Hội đồng Cố vấn ủy ban Nhân dân Nam Bộ; tháng 9-1945, là Trưởng ban Y tế và bào chế của sở Y tế Nam Bộ. Tháng 10 năm 1945, theo lệnh Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, ông về Mỹ Tho để tham gia công tác y tế cách mạng. Tại đây, ông đã cùng đồng nghiệp chế tạo thành công huyết thanh chống uốn ván và nhiều loại vắc xin phòng bệnh. Tháng 3-1946, làm công tác vận động trí thức, tiếp tế thuốc cho khu 7 để săn sóc cán bộ hoạt động nội thành và ở khu về. Tháng 6-1947, là ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ; kiêm Giám đốc Sở Y tế quân dân Nam Bộ. Tháng 3-1955, là Trưởng đoàn đại biểu nhân dân Nam Bộ đi dự Hội nghị châu Á tại Niu Đê-li (Ấn Độ). Tháng 7-1955, là Giám đốc Bệnh viện 303. Tháng 1956, là Giám đốc Viện Vi trùng học. Năm 1958, được phân công kiêm Giám đốc Viện nghiên cứu Đông y. Năm 1959, là Giám đốc Viện nghiên cứu Đông y. Tháng 4-1969, được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Y tế. Tháng 5-1970, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định là Bí thư Đảng Đoàn Bộ Y tế. Năm 1956, ông là ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Năm 1960, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1964- 1971, ông là Phó Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội, là Đại biểu Quốc hội khóa I, II, III. Ông là ủy viên Chủ tịch Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông mất vào ngày 4 tháng 8 năm 1998, thọ 93 tuổi. Ngay trước khi mất, tên ông đã được đặt cho một học bổng trong lĩnh vực y tế của báo Sài Gòn Giải Phóng mang tên Học bổng Nguyễn Văn Hưởng. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều có những con đường mang tên ông.

Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Anh hùng Lao động, Huân chương Độc Lập hạng nhất, Thầy thuốc Nhân dân, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996) và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

Ông tham gia xây dựng nền y tế nhân dân theo định hướng “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, là người khởi xướng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, đặt nền móng cho mô hình y tế dự phòng, vốn trở thành chiến lược y tế then chốt của Việt Nam. Ông góp phần đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ, dược sĩ trong thời kỳ đầu xây dựng hệ thống giáo dục y khoa của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là người rất tận tụy trong công tác phòng dịch, đặc biệt trong các chiến dịch chống sốt rét, chống dịch tả, dịch hạch – những căn bệnh từng đe dọa sức khỏe cộng đồng. Những cán bộ y tế từng làm việc với ông kể lại rằng dù giữ những chức vụ cao, ông “vẫn luôn là người thầy thuốc trước khi là một người lãnh đạo”, giản dị, gần gũi và tận tâm với người bệnh.

Đối với tôi, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là hiện thân của những phẩm chất cao đẹp: Trí tuệ – bản lĩnh của một nhà y học tiên phong; Tận tụy – trách nhiệm với nhân dân; Khiêm nhường – giản dị trong lối sống và phong cách lãnh đạo. Ông là mẫu hình hiếm có của một trí thức y khoa hòa quyện sâu sắc giữa tài năng chuyên môn, bản lĩnh chính trị và tấm lòng với nhân dân. Ở ông toát lên sự khiêm nhường, liêm chính, bền bỉ và tinh thần phụng sự tuyệt đối. Sự chăm chú với từng bệnh nhân, sự quyết liệt trong điều hành, và sự tận tụy trong mọi nhiệm vụ khiến ông trở thành điểm tựa tinh thần cho nhiều thế hệ bác sĩ, cán bộ và chiến sĩ. Khi đọc và tìm hiểu về ông, tôi cảm nhận được một nguồn năng lượng trong trẻo nhưng mạnh mẽ – thứ năng lượng của những con người đặt lợi ích cộng đồng lên trên mọi danh vọng cá nhân. Hình ảnh của ông gợi nhắc chúng ta hôm nay về trách nhiệm của người thầy thuốc trong kỷ nguyên mới: vẫn phải giữ y đức, vẫn phải bảo vệ nhân dân, vẫn phải tiến bộ không ngừng; và trên hết, phải tiếp nối tinh thần mà ông để lại – tinh thần của sự cống hiến không giới hạn vì sự sống, vì Tổ quốc và vì con người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
GIÁO SƯ BÁC SĨ NGUYỄN VĂN HƯỞNG: NGƯỜI THẦY THUỐC CỦA NHÂN DÂN, NGƯỜI CHIẾN SĨ CỦA THỜI ĐẠI | Câu chuyện thời hoa lửa