GIÁO SƯ CA VĂN THỈNH (1902-1987)
Giáo sư Ca Văn Thỉnh sinh ngày 21/3/1902, là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo ở đầu nguồn rạch Cá Sấu (mà sau này giáo sư lấy bút hiệu là Ngạc Xuyên, tức rạch Cá Sấu) nay thuộc ấp Thành Hóa I (Ấp 9) xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ông sống trong thời kỳ tranh chấp giữa Tây học (Quốc ngữ) và Hán ngữ, dẫn đến sự cáo chung của nền Nho học. Nhờ cần mẫn, hiếu học, năm 17 tuổi, ông đỗ bằng tốt nghiệp tiểu học tỉnh và nhận được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn. Năm 1925, ông đỗ tiếp vào Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Đây là sự kiện lớn vào thời đó. Gia đình nông dân nghèo, khó bề học xa, ông đã được Hội khuyến học và nhiều người địa phương tài trợ, giúp đỡ. Năm 1928, tốt nghiệp, ông được bổ nhiệm làm Đốc học Trường tiểu học (E'cole primaire), trường lớn nhất của tỉnh Bến Tre, được xây cất năm 1920 với hai dãy tường lầu do viên đốc học người Pháp cai quản. Có thể nói, ông là nhà giáo bản xứ có chức vụ và học vị cao nhất đầu tiên của tỉnh.
Do hấp thụ nền Nho giáo, trọng lễ nghĩa, lại xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo khó, thành tài từ sự đùm bọc, cưu mang của người thân cùng khổ, bị bóc lột trong kiếp đời nô lệ sưu cao, thuế nặng nên ông sớm định hình nhân cách nhân ái quý báu "Yêu nước và thương người nghèo khổ". Nhờ vậy mà ngay trong gia đình, ông đã giáo dục và chọn hướng, tạc ra mô hình: "Gia đình văn hoá - nghệ thuật". Ông có sáu người con, tất cả đều được rèn luyện dưới mái trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc và đều thành đạt. Đặc biệt là nhà thơ liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ca Lê Hiến, bút danh Lê Anh Xuân (được Giải thưởng Nhà nước đợt đầu), mà ý chí tiêu biểu cho thời đại Hồ Chí Minh được thể hiện qua triết lý của bài thơ “Dáng đứng Việt Nam".
Qua hơn một thập niên làm đốc học trước Cách mạng tháng Tám, nhiều lớp trẻ tham gia kháng chiến đầu tiên của tỉnh nhà đều là học trò của nhà giáo Ca Văn Thỉnh. Ông sớm tham gia chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa cướp chính quyền tại tỉnh trong đoàn diễn giả lưu động dưới danh nghĩa “Hội truyền bá Quốc ngữ" để chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền. Đoàn diễn giả đăng đàn diễn thuyết khắp nơi trong tỉnh gồm: Giáo sư Phạm Thiều, Giáo sư Ca Văn Thỉnh, Giáo sư Đặng Ngọc Tốt... Trong cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ nhất, ở Bến Tre do tình hình chiến sự cấp bách được tổ chức sớm hơn 10 ngày (tức là ngày 25/12/1945 thay vì 6/1/1946 như diễn ra trong toàn quốc). Trong 5 đại biểu chính thức, ông có phiếu đứng hàng thứ sáu và được bầu là đại biểu dự bị.
Tháng 4/1946, Ca Văn Thỉnh được Khu 8 chọn tham gia cuộc vượt biển đầu tiên ra gặp Trung ương và Bác Hồ cùng với các ông Đào Văn Trường, Trần Hữu Nghiệp và bà Nguyễn Thị Định. Ra Hà Nội, ông được đề cử là đại biểu Quốc hội chính thức của Bến Tre tham dự kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ở Thủ đô. Sau đó, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong hàm giáo sư cùng với các ông Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh,... và được bố nhiệm làm Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục, trực tiếp nhận chỉ thị từ Bác. Ông đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng nền móng đầu tiên cho sự nghiệp giáo dục non trẻ của nước nhà.
Năm 1952, Bến Tre bị giặc chiếm đóng, ông không quản ngại gian khổ, hy sinh đã xin trở lại chiến trường Nam Bộ ác liệt và được phân công làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ phụ trách giáo dục, kiêm ủy viên Ban Liên Việt Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève (tháng 7/1954), ông tập kết ra Bắc, được phân công các vị trí công tác như phụ trách Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông được phân công làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam (nay là Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ), đại diện Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.
Là một trí thức lớn tiên phong tham gia tổng khởi nghĩa, một lòng một dạ theo Đảng làm cách mạng, Giáo sư Ca Văn Thỉnh vừa là nhà giáo mẫu mực, nhà nghiên cứu Nam Bộ có uy tín. Các trước tác của ông cho thấy ông là hiện thân tiêu biểu của nhân cách nhà giáo Nam kỳ lục tỉnh Võ Trường Toản của lối giáo dục tri ngôn, dưỡng khí; của tinh thần yêu nước, hiếu trung trọn vẹn của thầy giáo, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu hay của một người trung trinh nghĩa khí suốt đời chăm lo cho dân nghèo như cụ Nguyễn Thông (làm Đốc học tỉnh Vĩnh Long thế kỷ XIX). Tất cả những tố chất tốt đẹp ấy kết tỉnh, hiện hữu trong ông và những người đồng chí hướng, được ông thâu tóm trong tác phẩm đầy tâm huyết của mình: Hào khí Đồng Nai.
Ngay thuở còn là sinh viên học ở Hà Nội, ông là tác giả và đã cho trình diễn vở cải lương “Bầu nhiệt huyết", nội dung chính là đề cao nhân vật Nguyễn Trãi chống quân xâm lược. Vở tuồng sau này bị nhà cầm quyền thực dân cấm diễn.
Tuy trước tác của ông không nhiều, nhưng thông qua mỗi tác phẩm như: Đất và người Nam Bộ, Xây dựng con người mới từ tuổi thơ, Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX (viết chung với nhà thơ Bảo Định Giang), Nguyễn Thông - Con người và tác phẩm (viết chung với nhà thơ Bảo Định Giang), và nhiều bài đăng trên các báo Văn nghệ, Tạp chí Đại Việt, Nam kỳ tuần báo, Tạp chí Văn học,... người đọc cảm nhận được một “nhân cách cao đẹp và nhân hậu" của con người ông.
Ông mất năm 1987. Do những công lao đóng góp liên tục cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Tại Bến Tre, nhằm vinh danh công lao to lớn của ông đối với nền văn hóa, giáo dục của dân tộc và địa phương, tỉnh đã đặt tên Ca Văn Thỉnh cho một con đường ở thành phố Bến Tre và một trường trung học phổ thông tại xã An Thới, huyện Mỏ Cày Nam và tạc tượng đặt tại trường. Đây là một trong những cách thiết thực nhắc nhớ thế hệ trẻ hôm nay và mai sau phấn đấu học tập kiên trì và noi theo “một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu" của Ca Văn Thỉnh. Ngoài ra, khu lưu niệm Giáo sư Ca Văn Thỉnh tại xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, năm 2013 cũng được Chủ tịch UBND tỉnh xếp hạng Di tích cấp tỉnh.



