Bài viết

Giáo sư Đặng Thai Mai - Nhà trí thức tiền bối và ngọn cờ cách mạng ngời sáng

Nghệ An28/10/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Phường Nghĩa Đô (phường Nghĩa Đô)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam, biết bao thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương, sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân và tính mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi nhắc đến những trang sử hào hùng ấy, người ta thường nhớ ngay đến hình ảnh những người chiến sĩ quả cảm cầm súng xông pha nơi chiến hào bom đạn. Thế nhưng, lịch sử cách mạng Việt Nam còn được khắc ghi bởi một mặt trận thầm lặng nhưng không kém phần cam go, khốc liệt: mặt trận văn hóa, tư tưởng. Trên mặt trận ấy, lớp lớp trí thức yêu nước đã dùng ngòi bút, khối óc và nhân cách cao khiết của mình để đập tan luận điệu nô dịch của quân thù, thức tỉnh tinh thần quật khởi của giống nòi. Trong số những bậc tiền bối tiêu biểu của phong trào cách mạng tiền khởi nghĩa trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Giáo sư Đặng Thai Mai nổi lên như một tấm gương ngời sáng về tinh thần dấn thân, lòng kiên trung bất khuất và sự tận tụy trọn đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đặng Thai Mai sinh ngày 25 tháng 12 năm 1902 tại Thanh Hóa, quê gốc ở làng Lương Điền (nay thuộc xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) – vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi mạch nguồn yêu nước và truyền thống hiếu học ngàn đời chảy mãi trong tâm thức của mỗi người con xứ Nghệ. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho thanh bạch nhưng giàu tiết tháo cách mạng. Thân phụ của ông là chí sĩ Đặng Nguyên Cẩn, một danh sĩ đỗ Phó bảng, từng tham gia lãnh đạo phong trào Duy Tân và là người bạn tâm giao, đồng chí hướng mật thiết của nhà yêu nước Phan Bội Châu. Tuổi thơ của Đặng Thai Mai gắn liền với những biến cố đau thương của gia đình khi người cha bị thực dân Pháp bắt đày ra nhà tù Côn Đảo suốt mười ba năm ròng rã, gia cảnh sa sút và chịu sự giám sát hà khắc của chính quyền tay sai. Chính bầu không khí đau thương nhưng quật khởi ấy, cùng tấm gương kiên trung của người cha nơi ngục tù tối tăm, đã sớm nhen nhóm trong tâm hồn cậu thiếu niên Đặng Thai Mai lòng căm thù giặc sâu sắc và khát vọng cháy bỏng đánh đuổi quân xâm lược, rửa nhục cho non sông. Lớn lên, Đặng Thai Mai theo học tại Trường Quốc học Huế rồi thi đỗ vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương tại Hà Nội – cái nôi đào tạo trí thức hàng đầu thời bấy giờ. Tại đây, giữa trung tâm của những luồng tư tưởng mới, người thanh niên trẻ nhanh chóng hòa mình vào phong trào đấu tranh sôi nổi của học sinh, sinh viên yêu nước. Những năm 1925 – 1926, khi phong trào đòi thực dân Pháp ân xá cho cụ Phan Bội Châu bùng nổ khắp ba kỳ và sự kiện tổ chức lễ truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh làm rung chuyển xã hội thuộc địa, Đặng Thai Mai đã luôn là một trong những hạt nhân hăng hái đi đầu, sẵn sàng bãi khóa, xuống đường biểu tình đòi quyền sống và quyền tự do cho đồng bào. Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Đặng Thai Mai diễn ra vào năm 1928, khi ông chính thức gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng – tổ chức chính trị tiến bộ có xu hướng chuyển dần sang lập trường cách mạng vô sản. Ông tích cực tham gia vận động quần chúng, truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc trong giới thanh niên và trí thức. Năm 1929, trước làn sóng khủng bố trắng của chính quyền thực dân Pháp, Đặng Thai Mai bị địch bắt giam và kết án tù treo. Song, gông cùm, đòn roi và sự đe dọa của kẻ thù không thể khuất phục được khí tiết của người trí thức yêu nước; trái lại, những ngày tháng thử thách trong lao tù chỉ càng làm cho thế giới quan cách mạng của ông thêm sáng tỏ, tôi luyện cho ông một bản lĩnh chính trị gang thép để kiên định đi theo con đường cứu nước. Sau khi thoát khỏi ngục tù đế quốc, nhận thấy giáo dục là con đường then chốt để khai dân trí, chấn dân khí và thức tỉnh thanh niên trước vận mệnh sống còn của giống nòi, Đặng Thai Mai đã chọn bục giảng làm chiến hào chiến đấu. Thập niên 1930, ông chuyển về dạy học tại Trường Tư thục Thăng Long ở Hà Nội – nơi quy tụ những gương mặt trí thức kiệt xuất giàu nhiệt huyết cách mạng như Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, Phan Thanh, Đặng Châu Tuệ. Đứng trên bục giảng dạy môn Văn học và Triết học phương Tây, thầy giáo Đặng Thai Mai không truyền thụ kiến thức một cách sáo rỗng theo khuôn mẫu của nền giáo dục thực dân, mà khéo léo vận dụng tư tưởng tiến bộ, tinh thần nhân bản và truyền thống bất khuất của dân tộc để khơi dậy lòng tự tôn, ý thức trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước. Dưới sự dìu dắt của người thầy mẫu mực ấy, trường Thăng Long đã trở thành cái nôi ươm mầm bí mật, đào tạo nên biết bao chiến sĩ cách mạng kiên trung cho phong trào dân tộc sau này. Cũng chính nơi đây đã chứng kiến tình bạn, tình đồng chí sâu sắc và gắn bó keo sơn giữa ông và người đồng nghiệp trẻ Võ Nguyên Giáp – người mà sau này trở thành vị Đại tướng huyền thoại của dân tộc và cũng là người con rể thân thương trong gia đình ông. Không chỉ truyền lửa trên bục giảng, Đặng Thai Mai còn là một chiến sĩ tiên phong, dũng mãnh trên mặt trận báo chí và lý luận tiến bộ suốt thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 1939). Bằng ngòi bút sắc sảo, uyên bác và giàu tính chiến đấu, ông đã viết hàng loạt bài tiểu luận bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp đăng trên các tờ báo tiến bộ như Nhượng bộ, Bạn dân, Tin tức, Thế giới nhằm vạch trần bản chất áp bức của chế độ thuộc địa, cổ vũ tinh thần đấu tranh dân chủ và đòi quyền dân sinh cho nhân dân lao động. Đặc biệt, năm 1943, khi Trung ương Đảng ban hành bản “Đề cương về Văn hóa Việt Nam” do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, xác định ba nguyên tắc vận động văn hóa là “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng”, Giáo sư Đặng Thai Mai là một trong những thành viên đầu tiên và nòng cốt tham gia sáng lập Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam. Giữa thời điểm phong trào cách mạng đang sục sôi chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa, năm 1944, ông đã xuất bản công trình nghiên cứu lý luận kinh điển mang tên “Văn học khái luận”. Đây được xem là tác phẩm lý luận mác-xít đầu tiên đặt nền móng cho nền lý luận phê bình văn học cách mạng nước nhà, giáng một đòn chí mạng vào những luận điệu văn nghệ nghệ thuật vị nghệ thuật hay tư tưởng văn hóa nô dịch của chủ nghĩa thực dân, định hướng cho toàn bộ giới văn nghệ sĩ và trí thức đương thời hướng ngòi bút về cuộc kháng chiến trường kỳ của quần chúng nhân dân. Mùa thu năm 1945, ngọn triều cách mạng dâng cao, Đặng Thai Mai cùng các đồng chí đón chào cuộc Cách mạng Tháng Tám toàn thắng, lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu năm 1946, ông vinh dự được cử tri tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I. Đánh giá cao tài năng, đức độ và uy tín của ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng giao cho ông trọng trách giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Trong những ngày đầu độc lập non trẻ, khi đất nước phải đối mặt với muôn vàn gian khó của thù trong giặc ngoài cùng ba thứ giặc hung hãn: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, Bộ trưởng Đặng Thai Mai đã dốc toàn bộ tâm lực chỉ đạo xây dựng nền giáo dục mới – nền giáo dục của một nước độc lập. Ông trực tiếp thúc đẩy phong trào Bình dân học vụ để diệt trừ giặc dốt cho hàng triệu đồng bào mù chữ, đồng thời lãnh đạo việc biên soạn lại sách giáo khoa hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, khẳng định quyền tự chủ và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Khi thực dân Pháp dã tâm quay lại xâm lược, không một chút do dự, Giáo sư Đặng Thai Mai đã gác lại đời sống thị thành, cùng gia đình mang theo hành trang người chiến sĩ rời thủ đô lên chiến khu Việt Bắc kháng chiến trường kỳ. Trong suốt những năm tháng gian khổ, ăn cơm vắt, nằm hầm hào giữa đại ngàn Việt Bắc, ông từng kinh qua nhiều cương vị trọng yếu: Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa, Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Nam. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đồng thời tiếp tục cho ra đời những công trình văn học, sử học đồ sộ có giá trị tư tưởng sâu sắc như nghiên cứu về Lỗ Tấn, phong trào Văn hóa Phục hưng, hay những công trình nghiên cứu mẫu mực về thi văn Phan Bội Châu. Hòa bình lập lại trên miền Bắc rồi đất nước hoàn toàn thống nhất sau năm 1975, Giáo sư Đặng Thai Mai tiếp tục cống hiến những năm tháng cuối đời cho nền khoa học nước nhà trên cương vị Viện trưởng đầu tiên của Viện Văn học Việt Nam và Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Với những cống hiến xuất sắc và trọn đời cho cách mạng, ông đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, cùng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ngày 25 tháng 9 năm 1984, trái tim của người thầy vĩ đại, người chiến sĩ cách mạng tiền bối Đặng Thai Mai đã ngừng đập, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng nhân dân và giới trí thức cả nước. Nhưng di sản tinh thần, những trang sách ngời sáng lý tưởng và nhân cách thanh cao của ông thì còn sống mãi với thời gian. Cuộc đời ông chính là câu trả lời hùng hồn nhất cho câu hỏi: “Trí thức phải sống và cống hiến thế nào trước vận mệnh sống còn của dân tộc?”. Bằng cả cuộc đời mình, ông đã chứng minh rằng lòng yêu nước chân chính không bao giờ tách rời khỏi số phận của nhân dân, và tri thức chỉ thực sự có giá trị khi nó được soi đường bởi lý tưởng cách mạng và phụng sự cho hạnh phúc của giống nòi. Khép lại những trang sử ghi dấu cuộc đời hoạt động hào hùng của Giáo sư Đặng Thai Mai, thế hệ học sinh, đoàn viên thanh niên hôm nay không khỏi trào dâng niềm xúc động và lòng biết ơn vô hạn. Sinh ra và lớn lên khi đất nước đã sạch bóng quân thù, được học tập dưới mái trường khang trang trong nền hòa bình độc lập, chúng tôi càng thấu hiểu sâu sắc cái giá thiêng liêng của độc lập, tự do đã được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu của các thế hệ tiền bối đi trước. Noi gương người trí thức cách mạng Đặng Thai Mai, thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay tự hứa sẽ không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, nuôi dưỡng hoài bão lớn lao và không ngừng làm giàu tri thức, để đem sức trẻ và trí tuệ của mình tiếp bước cha anh, góp phần dựng xây non sông Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn