Bài viết

GIÁO SƯ ĐẶNG VĂN NGỮ

Quảng Trị14/06/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giáo sư (GS), Bác sĩ (BS) Đặng Văn Ngữ là một trong những nhà khoa học hàng đầu của nền y học cách mạng Việt Nam. Với nguồn tri thức sâu rộng, tinh thần yêu nước sâu sắc, con đường sự nghiệp của giáo sư không chỉ làm giới khoa học khâm phục, mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ học trò.

Ở tuổi 85, BS Trần Thị Lịch - một trong những học trò may mắn trực tiếp làm việc cùng GS Đặng Văn Ngữ - vẫn không quên giọng nói nhẹ nhàng, tác phong giản dị nhưng quyết đoán, tinh thần làm việc cống hiến của người thầy đáng kính.

Trong hồi ký Ngọn đèn giữa đại ngàn Trường Sơn vừa hoàn thành hồi tháng 8, nữ bác sĩ ghi lại những ngày tháng ở Vĩnh Linh và chiến trường Trị Thiên - Huế (1966-1967), nơi GS Đặng Văn Ngữ sống, làm việc và hy sinh.

Ở đó, bà trao gửi nỗi tiếc thương, lòng biết ơn và cả sự day dứt vì những điều còn dang dở trong sự nghiệp của một nhà khoa học tận tụy, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và lý tưởng phụng sự Tổ quốc.

Vị giáo sư xắn quần để muỗi đốt giữa rừng Trường Sơn

Trò chuyện với phóng viên Dân trí, BS Lịch chia sẻ, hành trình theo chân GS Đặng Văn Ngữ - Viện trưởng Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương - cùng các cán bộ của viện vào chiến trường miền Nam để nghiên cứu điều chế loại vaccine miễn dịch sốt rét và chữa trị tại chỗ cho bộ đội, là những ngày đáng nhớ nhất cuộc đời bà.

Năm đó, Trần Thị Lịch là nữ cán bộ côn trùng học của viện, tràn đầy niềm tin và tinh thần cống hiến nhờ sự chỉ dạy của GS Đặng Văn Ngữ.

Thời điểm 1965-1967, bệnh sốt rét trở thành nỗi ám ảnh tại chiến trường miền Nam, đặc biệt là vùng Trường Sơn. Bộ đội hành quân, ngủ võng, ngủ hầm, ở lán tạm trong điều kiện địa hình rừng núi nhiệt đới ẩm thấp, đối mặt với bầy muỗi vây quanh. Dịch bệnh không chỉ cướp đi sinh mạng bộ đội, mà còn triệt tiêu tinh thần chiến đấu, làm tiêu hao lực lượng chiến sĩ một cách âm thầm mà đau đớn.

Trước thực trạng ấy, GS Đặng Văn Ngữ, với tấm lòng của một người thầy thuốc và nhà khoa học yêu nước, không thể ngồi yên. Ông thành lập đoàn nghiên cứu vaccine sốt rét thoa trùng - một sứ mệnh mà sau này BS Lịch mới thấm thía hết tầm quan trọng và ý nghĩa của nó.

“Đầu năm 1966, tôi bất ngờ được thầy đích thân điều về đoàn nghiên cứu vaccine sốt rét, chuẩn bị đi thực địa tại Vĩnh Linh (Quảng Trị cũ - PV). Khi đó, tôi đã có hai con nhỏ. Nhưng trước sự tin tưởng thầy trao gửi, tôi không đắn đo”, bác sĩ Lịch kể lại.

Khi ấy, đoàn bác sĩ chẳng ai ngờ rằng, họ sắp bước vào một hành trình không chỉ khốc liệt về thể xác, mà còn đau đớn về tinh thần.

Trên chiếc UAZ được ngụy trang bằng cành, lá cây, đoàn vượt hàng trăm cây số suốt 7 ngày đêm đến chiến trường khốc liệt. Ban ngày, họ tìm nơi ẩn nấp, ban đêm mới dám lặng lẽ di chuyển để tránh bị máy bay địch phát hiện.

Vào chiến trường, mỗi đêm trong lán rừng, tiếng chim vang vang đều đều “bắt cô trói cột” nghe khoắc khoải, buồn đến lạ. Bác sĩ Lịch thấm thía nỗi nhớ con, nhớ nhà. Hiểu tâm tư học trò, GS Đặng Văn Ngữ động viên, nói đùa tiếng chim đó là “khó khăn, khắc phục”.

Những ngày đầu tiếp xúc trực tiếp với GS Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Lịch ngày ấy không tránh khỏi hồi hộp và e dè. Thế nhưng càng làm việc, bà lại càng cảm nhận rõ nhân cách lớn, tấm lòng bao dung của người thầy phía sau vẻ ngoài nghiêm khắc.

Là nhà khoa học lớn nhưng bác sĩ Đặng Văn Ngữ không nề hà công việc của một nhân viên nghiên cứu bình thường, sẵn sàng xắn quần làm mồi cho muỗi đốt giữa núi rừng Vĩnh Linh cùng các học trò. Hình ảnh người thầy với vóc dáng mảnh khảnh, đôi chân để trần làm mồi bắt muỗi giữa rừng sâu năm xưa đã khắc ghi vào ký ức vị bác sĩ 85 tuổi và những cán bộ đoàn nghiên cứu.

Kiến thức, tác phong và nhân cách của người thầy trở thành động lực cho bác sĩ Lịch và các cộng sự cố gắng tìm biện pháp hữu hiệu phù hợp nhất phòng chống sốt rét.

Mỗi người một nhiệm vụ, bác sĩ Lịch tham gia bắt muỗi, mổ muỗi tìm thoa trùng. Từ những ngày học hỏi thầy cho đến khi trở thành người đồng hành cùng thầy, bà nhớ mãi khoảnh khắc vỡ òa cảm xúc lần đầu tiên thấy thoa trùng trong tuyến nước bọt muỗi dưới kính hiển vi.

"Cảm xúc tôi vỡ oà, vừa hồi hộp, xúc động, vừa tự hào khi thầy xác nhận đó đúng là thoa trùng và khen tôi rất kiên trì, tập trung. Khoảnh khắc ấy trở thành dấu ấn không thể quên trong cuộc đời làm khoa học của tôi, như một bước chuyển từ người học việc sang người đồng hành thật sự trong hành trình nghiên cứu khoa học đầy lý tưởng mà giáo sư đã khởi xướng", bác sĩ Lịch nhớ lại.

Sau 3 tháng nghiên cứu chế tạo vaccine sốt rét thử nghiệm tại Vĩnh Linh với những tín hiệu tích cực, GS Đặng Văn Ngữ có niềm tin lớn rằng vaccine điều chế từ tuyến nước bọt muỗi có thoa trùng tự nhiên sẽ có khả năng phòng được sốt rét, bảo vệ sinh mạng cho bộ đội đang chiến đấu tại núi rừng Trường Sơn.

Và cũng chính từ niềm tin ấy, GS Đặng Văn Ngữ bắt đầu một hành trình mới. Tháng 9/1966, trở lại Hà Nội, ông gửi đề nghị đến Bộ Y tế và Thủ tướng Chính phủ, quyết tâm tiếp tục sản xuất được vaccine đưa đến chiến trường khu Trị Thiên - Huế, nơi tình hình dịch bệnh và điều kiện chiến đấu đang vô cùng khốc liệt.

Dù nhiều lần bị từ chối vì lý do an toàn, giáo sư vẫn kiên trì thuyết phục. Sau cùng, nguyện vọng của ông đã được chấp thuận - mở đường cho chuyến đi vào chiến trường Trị Thiên - Huế đầu năm 1967. Một chuyến đi đặc biệt, mang theo khát vọng khoa học cháy bỏng, lòng yêu nước nồng nàn và cả những mất mát, đau thương không gì bù đắp được sau này.

“Vừa mới đây thôi, mà giờ... mất hết rồi!”

Trước khi vào chiến trường Trị Thiên - Huế, đoàn công tác gồm GS Đặng Văn Ngữ và 12 cán bộ của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương trải qua đợt tập huấn tại Hòa Bình (cũ). Sau này, con trai GS Ngữ - đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh - kể lại, trong bức thư cha gửi từ Hòa Bình về gia đình có đoạn: “Thời gian bồi dưỡng ở chỗ tập trung ba luôn luôn mạnh khoẻ. Mang ba lô, leo dốc được như mọi người…”.

Ở tuổi 57, ông không để tuổi tác, sức khỏe làm chùn bước chân. Mỗi ngày, ông tập mang vác ba lô 30kg, hành quân vượt dốc núi, học bắn súng, tập bò, học cách tổ chức sinh hoạt, sơ cứu, giữ gìn thiết bị như mọi người. Nghị lực và sự dấn thân của ông khiến gia đình và các học trò vô cùng xúc động.

Trước khi lên đường, GS Đặng Văn Ngữ động viên các cán bộ để ai cũng yên tâm làm nhiệm vụ. BS Lịch khi ấy băn khoăn, trăn trở vì có mẹ già, con nhỏ, nhưng đã được thầy nhắn nhủ, trao gửi niềm tin: "Kỳ này cô vào chiến trường tiếp tục công việc mổ muỗi làm vaccine. Công việc cần cô. Tôi sẽ cho người đón 2 con của cô đang sơ tán ở Ninh Bình lên để cô yên tâm đi".

Lời nói ấy khiến BS Lịch không còn thấy sợ hãi trước gian khổ, chỉ còn thấy vinh dự được đồng hành cùng người thầy bác ái, nghị lực.

Một ngày đầu năm 1967, GS Đặng Văn Ngữ cùng đoàn nghiên cứu lên đường đến khu Trị Thiên - Huế. Ngước lên bầu trời trong xanh, những cán bộ y tế háo hức nghĩ về hành trình phía trước, tràn đầy hy vọng về sứ mệnh đặc biệt: Nghiên cứu, sản xuất và triển khai tiêm chủng vaccine sốt rét tại chỗ cho bộ đội.

Hai tháng ròng rã, qua những cánh rừng rậm rạp, đèo cao, dốc thẳm, sông suối gầm gào, với đủ hiểm nguy rình rập như vắt, muỗi, rắn độc, mưa rừng, bom đạn bất ngờ và cả những đợt càn quét của địch, đoàn cũng tới chiến khu Trị Thiên - Huế.

Hằng ngày, đoàn nghiên cứu sống và làm việc trong điều kiện kham khổ, ngủ võng trong hầm, ăn cơm với muối rang, rau rừng. Tiếng bom, tiếng đạn trở thành âm thanh quen thuộc mỗi ngày.

Ngày 1/4/1967, rừng Trường Sơn tỏa hơi nóng đầu mùa khô. Quanh căn lán nhỏ, GS Đặng Văn Ngữ cùng đồng đội miệt mài xây dựng trạm nghiên cứu. Hết gạo ăn, đoàn chia làm 3 nhóm. Một nhóm gồm 7 người đi vùng giáp ranh lấy gạo. Nhóm gồm 2 người đi Quảng Trị nhận dụng cụ chuyên môn. Nhóm còn lại gồm GS Ngữ, BS Lịch và 3 kỹ thuật viên là cô Oánh, cô Thành và cô Tuyên ở lại tiếp tục đào hầm, xúc đất, chẻ lạt... để hoàn thiện trạm.

13h45, chiến sĩ bộ đội thông tin Đới Văn Như chạy sang, mồ hôi nhễ nhại, thông báo: "B52 14h30 oanh tạc. Chưa rõ mục tiêu". Theo quy định, khi có tin báo, mọi người phải xuống hầm trú ẩn trước 15 phút và có thể rời hầm 15 phút sau loạt bom cuối cùng.

Tin báo vừa dứt, GS Đặng Văn Ngữ nhẹ nhàng căn dặn: "Cô Lịch về trước chuẩn bị cơm nước kẻo phải ngồi hầm lâu, không nấu được cơm. Nhớ xuống hầm đúng 14h15 nhé. Thầy và các cô 14h sẽ về".

Giữa giây phút hiểm nguy, vị giáo sư vẫn nghĩ đến bữa cơm cho cả nhóm, vẫn nấn ná ở lại thêm vài phút tiếp tục dựng trạm nghiên cứu. Không ai lường trước được sự thật đau thương, rằng chỉ vài phút sau, nơi này sẽ hóa thành một hố bom khổng lồ và số phận của một nhà khoa học tài hoa vĩnh viễn khép lại.

Nghe lời thầy, BS Lịch men theo bờ suối, tranh thủ hái nắm rau tai voi, vo gạo, rửa rau. Bếp được bố trí bên lán nhỏ có hầm, cách nơi GS Ngữ đào trạm nghiên cứu chỉ khoảng 150m. Đi được nửa quãng đường tới bếp, BS Lịch nghe 2 tiếng nổ chát chúa. Bà giật mình khựng lại vì đây không phải là bom tọa độ từ xa.

Hàng loạt tiếng nổ nhỏ lục bục dội vào tim gan, nữ bác sĩ hiểu rằng máy bay đang rải thảm rất gần. Hơi bom phụt từng luồng mạnh, mặt đất như bị xới tung. Lá cuốn thành từng cuộn xoáy. Những nhánh cây bị mảnh bom chặt ngang, rơi xuống trơ trụi.

BS Lịch chỉ biết chạy thục mạng về bếp, tim đập liên hồi. Khi bà nhảy vào hầm nhỏ ở lán bếp thì loạt bom thứ nhất cũng vừa dứt. Bà ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu, đinh ninh rằng loạt bom thứ hai sẽ dội xuống mình. BS Lịch hiểu điều khủng khiếp đang xảy ra: Máy bay đã ném sớm hơn báo động!

Đúng lúc BS Lịch đang hoảng loạn, trên nóc hầm vang lên tiếng đổ sầm, kéo theo tiếng thở gấp gáp. Cô Oánh nằm trên miệng hầm, tóc cháy xoăn tít, mặt lấm lem đất, quần áo rách bươm. BS Lịch kiểm tra thấy cô Oánh không bị thương nặng, hỏi dồn: "Thầy Ngữ đâu? Thành đâu? Tuyên đâu?". Cô Oánh thều thào nói "Em… không biết", rồi ngất lịm.

Lúc đó, nữ bác sĩ cố giữ bình tĩnh. Sau loạt bom cuối khoảng 15 phút, BS Lịch chui ra khỏi hầm, chạy thẳng sang núi bên kia, thầm cầu mong một điều duy nhất: Thầy và mọi người kịp vào hầm giữa lúc bom trút xuống.

Thế nhưng, đến nơi, không còn là cảnh tượng khu rừng quen thuộc. BS Lịch bàng hoàng chứng kiến cây cối đổ gãy ngổn ngang, đất đá bị đào xới tung tóe. Trên sườn núi, thi thể cô Thành, cô Tuyên bị hất ngược lên cao, quần áo rách nát, thân người đầy tro bụi.

Quay sang trái, nữ bác sĩ chết lặng. Một phần cẳng chân, một nắm tóc còn mắc lại trên cành cây gãy... Thi thể GS Đặng Văn Ngữ và chiến sĩ bộ đội thông tin Đới Văn Như hầu như không còn nguyên vẹn, lẫn vào nhau và vào đất cát, không còn phân biệt được của ai với ai.

"Tôi hốt hoảng, sợ hãi, chân tay run rẩy, chết lặng người đi, đầu óc quay cuồng, ngã quỵ xuống, nước mắt trào ra không ngừng. Giữa khoảng rừng tang thương ấy, chỉ có mình tôi, bé nhỏ, lạc lõng, đơn côi, tủi thân đến cùng cực. Tôi đờ đẫn, không biết phải làm gì, cũng không nghĩ được gì, chỉ vừa nức nở, vừa vô tri sờ những đám đất quanh mình.

Chỉ mới ít phút trước, thầy còn dặn dò tôi xuống hầm đúng giờ. Vậy mà giờ đây, thi thể thầy và đồng đội đã không còn nguyên vẹn, không còn có thể nói với tôi nên làm gì. Tất cả đã dừng lại, đã nằm lại mãi mãi nơi này", BS Trần Thị Lịch nhớ lại giây phút tang thương.

Khi các anh bộ đội tiểu đoàn thông tin chạy tới, bà ôm chầm lấy họ mà khóc òa lên: "Vừa mới đây thôi, mà giờ… mất hết rồi!".

Máy bay Mỹ hôm ấy đến sớm hơn 30 phút. Trận bom B52 cướp đi sinh mạng của GS Đặng Văn Ngữ, hai kỹ thuật viên cùng một chiến sĩ bộ đội thông tin. Một nhà khoa học lỗi lạc, giàu lòng nhân ái đã cống hiến hết mình cho đất nước, để rồi hy sinh vì Tổ quốc trong một trận bom B52, như người lính ngã xuống trên mảnh đất hình chữ S.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn