GIÁO SƯ, HỌC GIẢ ĐÀO DUY ANH (1904 – 1988) – NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO TỪ ĐIỂN HỌC, VĂN HÓA HỌC VÀ SỬ HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Từ người thầy giáo trường tiểu học Đồng Hới dấn thân tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, sáng lập Quan hải tùng thư để truyền bá tư tưởng tiến bộ đến bậc học giả tự học uyên thâm để lại kho tàng trước tác đồ sộ về ngữ văn, sử địa và văn hóa, Giáo sư Đào Duy Anh (hiệu Vệ Thạch) là một trong những nhà bách khoa thư lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX.
XUẤT THÂN, TUỔI TRẺ VÀ NHÀ XUẤT BẢN “QUAN HẢI TÙNG THƯ”
Đào Duy Anh sinh ngày 25/4/1904 tại xã Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), nhưng lớn lên và gắn bó mật thiết với quê nội tại làng Khúc Nhiễm, huyện Nông Cống (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa).
Tuổi trẻ tự lập: Sau khi đỗ Thành chung tại Trường Quốc học Huế vào năm 1923, ông không vào học trường cao đẳng thực dân mà nhận việc dạy học tại Trường Tiểu học Đồng Hới (Quảng Bình).
Gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng: Bất bình trước nền giáo dục nô dịch, ông từ chức giáo viên để dấn thân vào con đường hoạt động yêu nước. Năm 1926, ông vào Đà Nẵng làm báo Thiểu số, rồi về Huế làm Tổng Thư ký của Tân Việt Cách mạng Đảng.
Sáng lập "Quan hải tùng thư" (1928): Nhận thức sâu sắc rằng muốn khai sáng dân trí cần phải đưa tri thức khoa học xã hội mới vào đời sống, ông thành lập nhà xuất bản tiến bộ Quan hải tùng thư tại Huế. Tại đây, ông trực tiếp biên soạn, dịch thuật và xuất bản nhiều tập sách phổ biến tư tưởng triết học, kinh tế học, xã hội học mới của phương Tây và Trung Quốc (như các tác phẩm của Montesquieu, Adam Smith, Marx...).
Năm 1929, thực dân Pháp mở đợt khủng bố bắt bớ các thành viên Tân Việt, ông bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ (Huế) cho đến đầu năm 1930.
CÔNG TRÌNH KHAI SƠN PHÁ THẠCH NỀN TỪ ĐIỂN HỌC HIỆN ĐẠI
Sau khi ra tù và chịu sự quản thúc của chính quyền thuộc địa, Đào Duy Anh chuyển toàn bộ tâm lực sang con đường nghiên cứu học thuật độc lập. Bằng ý chí tự học phi thường và kiến thức Nho học lẫn Tây học vững vàng, ông đã tạo nên những bước đột phá mang tính lịch sử:
Hán – Việt từ điển (1932): Công trình từ điển Hán – Việt hiện đại đầu tiên của Việt Nam, giải nghĩa tường tận hàng vạn từ ngữ Hán – Việt, giúp định hình hệ thống thuật ngữ học thuật và báo chí bằng tiếng Việt trong giai đoạn chuyển ngữ quan trọng đầu thế kỷ XX.
Pháp – Việt từ điển (1936): Bộ từ điển đối chiếu đồ sộ, đáp ứng nhu cầu học tập, dịch thuật và tiếp thu tri thức hiện đại của giới trí thức, học sinh thời bấy giờ.
Hai bộ từ điển kinh điển này đã đặt nền móng khoa học vững chắc cho ngành từ điển học Việt Nam và vẫn giữ nguyên giá trị tham khảo học thuật cho đến ngày nay.
TÁC PHẨM ĐỂ ĐỜI: “VIỆT NAM VĂN HÓA SỬ CƯƠNG” (1938)
Trước năm 1938, giới nghiên cứu chủ yếu tiếp cận lịch sử qua biên niên sử các triều đại phong kiến. Nhận thấy sự thiếu vắng của một công trình khái quát toàn diện đời sống tinh thần, vật chất và xã hội của dân tộc, Đào Duy Anh đã hoàn thành kiệt tác "Việt Nam văn hóa sử cương".
Đây là công trình đầu tiên ứng dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa học hiện đại của phương Tây để khảo sát lịch sử văn hóa Việt Nam từ thời cổ đại đến đầu thế kỷ XX.
Tác phẩm khảo cứu hệ thống và sâu sắc toàn bộ cấu trúc đời sống dân tộc: từ kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại), tổ chức xã hội (gia đình, làng xã, nhà nước), đến đời sống tinh thần (tôn giáo, phong tục, văn học, nghệ thuật, luật pháp).
Bộ sách ra đời như một câu trả lời đanh thép trước các luận điệu thuộc địa coi thường văn hóa bản địa, đồng thời chỉ ra con đường vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu văn minh nhân loại. Cùng với Văn minh An Nam của Nguyễn Văn Huyên, đây là một trong hai trụ cột đặt nền móng cho ngành Văn hóa học Việt Nam.
PHỤNG SỰ KHÁNG CHIẾN VÀ ĐẶT NỀN MÓNG NGÀNH SỬ HỌC ĐẠI HỌC
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đào Duy Anh đem toàn bộ trí tuệ và học vấn phụng sự chính quyền cách mạng non trẻ:
Ông được mời làm Ủy viên Ban Cố vấn Văn hóa của Chính phủ lâm thời, tham gia giảng dạy tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ (1946), ông cùng gia đình rời thủ đô lên chiến khu Việt Bắc, tham gia Hội Văn nghệ Việt Nam và giữ chức Trưởng ban Sử – Địa thuộc Vụ Văn học Nghệ thuật (Bộ Giáo dục).
Sau hòa bình lập lại năm 1954, ông trở thành Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử cổ đại Việt Nam tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, là người trực tiếp đào tạo thế hệ vàng các nhà sử học đầu tiên của nước nhà (trong đó có "tứ trụ sử học": Lâm – Lê – Tấn – Vượng: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng).
NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG VỀ ĐỊA LÝ LỊCH SỬ VÀ DỊCH THUẬT CỔ THƯ
Từ năm 1958 đến cuối đời, ông chuyển sang công tác tại Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, cống hiến trọn vẹn cho việc dịch thuật và khảo cứu thư tịch cổ:
Khai sinh môn Địa lý Lịch sử: Công trình "Đất nước Việt Nam qua các đời" (1964) của ông là chuyên khảo địa lý lịch sử mẫu mực đầu tiên, nghiên cứu chi tiết về cương vực, địa giới hành chính của nước ta qua từng triều đại lịch sử từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến thời nhà Nguyễn.
Dịch thuật và chú giải các bộ quốc sử kinh điển: Ông trực tiếp dịch, hiệu đính và chú giải hàng loạt bộ sử liệu đồ sộ bằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ với độ chuẩn xác học thuật cao: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục, Ức Trai thi tập, Đại Nam nhất thống chí...
Khảo cứu Truyện Kiều và chữ Nôm: Bộ tác phẩm Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến (1975) và Từ điển Truyện Kiều (1974) là những thành tựu mẫu mực về ngôn ngữ học và văn bản học Nôm.
DI SẢN BẤT HỦ
Giáo sư Đào Duy Anh qua đời ngày 1/4/1988 tại Hà Nội, thọ 84 tuổi.
Ghi nhận những đóng góp phi thường của ông cho nền học thuật dân tộc, năm 2000, Nhà nước đã truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 về Khoa học Xã hội và Nhân văn với cụm công trình lịch sử và văn hóa gồm: Lịch sử cổ đại Việt Nam, Đất nước Việt Nam qua các đời, Việt Nam văn hóa sử cương. Tên của ông được trang trọng đặt cho các tuyến phố lớn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng và Thanh Hóa.
Cả cuộc đời học giả Đào Duy Anh là tấm gương sáng ngời của tinh thần tự học, lao động khoa học kiên trì, trung thực và lòng tự tôn văn hóa dân tộc sâu sắc.



