Giáo sư Lê Xuân Phương
Một trí thức Tây học tiêu biểu - Giáo sư Lê Xuân Phương (1904-1989)
Tìm hiểu lai lịch hoạt động của Lê Xuân Phương qua sách báo, tài liệu hồi cố thì được biết cụ chuyển về làm công tác lưu trữ ngay từ những ngày đầu tiếp quản Kho Lưu trữ Trung ương, khi Thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Hà Nội. Với khả năng Hán học và Tây học ở tầm giáo sư, tuy không xuất thân từ nghề nghiệp lưu trữ, cụ vẫn tham gia công tác chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ lưu trữ.Trí thức thời Tây được đào tạo rất kỹ về nghiệp vụ tổ chức văn phòng, bản thân cụ đã từng là giám đốc Trường Quốc học Huế danh giá nên mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn khi tổ chức yêu cầu cụ nhận nhiệm vụ mới. Trước khi về hưu, cụ nguyên là phó giám đốc Kho Lưu trữ Trung ương Hà Nội, cơ quan tiền thân của Trung tâm Lưu Trữ Quốc gia 1 ngày nay.
Giáo sư Lê Xuân Phương sinh năm 1904, tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá. Ông đã từng làm giám đốc Trường Quốc học Huế (thời gian ông Phạm Đình Ái làm hiệu trưởng). Thời gian này ông có quan hệ thân thiết với các ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng và cùng chung tư tưởng kháng Pháp, giành độc lập dân tộc. Ông đã có lần giúp giấu ông Tố Hữu khi bị mật thám Pháp truy đuổi ngay trong ngôi nhà của mình.Đây là câu chuyện do GS.TS ngôn ngữ Nguyễn Tài Cẩn kể.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông từ giã Trường Quốc học Huế để tham gia cách mạng, là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Giáo sưLê Xuân Phương làm giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tháng 1-1955, ông được điều chuyển về phụ trách tổ địa lý, Ban Văn Sử Địa Trung ương. Năm 1959, ông lại được điều chuyển về công tác tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Phủ Thủ tướng với chức vụ Phó trưởng Kho Lưu trữ Trung ương tại 31 phố Tràng Thi Hà Nội. Khi nghỉ hưu ông được hưởng lương cấp chuyên viên 3.Ngày15-8-1989, ông qua đời.
Ngày 23-5-2008, nhà địa lý học Lê Xuân Phương đã được nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, với danh nghĩa một lão thành cách mạng.
Cuốn Sơ thảo địa lý Việt Nam do ông làm chủ biên và Ban Văn Sử Địa Việt Nam cho xuất bản tháng 6-1957 (*)đã từng gợi ra những ước mơ: “Nước ta có nhiều núi và nhiều mưa. Lưu lượng các sông mạnh… Có nhiều thác lớn có thể sử dụng vào việc sản xuất điện lực.. Điện lực mà một nhà thủy điện xây trên sông Đà vào khoảng chợ Bờ sản xuất ra có thể bằng gấp đôi điện lực của tất cả bao nhiêu nhà máy điện thực dân ở Bắc bộ trước kia cộng lại. Nếu ta đào một cái kênh độ 20 km nối sông Đa Nhim và sông Cơ-rông-pha ở Lang-bi-ang lại với nhau, ta sẽ tạo ra một cái thác cao 300m có thể sản xuất một điện lực để cung cấp cho Liên khu 5, Tây Nguyên và một phần Nam bộ.
Những công trình nghiên cứu của ông đã được công bố như: Đối tượng của địa lý kinh tế (tập san Văn Sử Địa, số 2-1958); Vấn đề địa đồ phiên âm địa danh (tập san Văn Sử Địa, số 1-1957); Ảnh hưởng giữa thiên nhiên và sinh hoạt xã hội (tập san Văn Sử Địa, số 1-1955)… Tất cả đều đã tiếp cận được những vấn đề cơ bản của khoa học địa lý. Đồng thời, ông cũng không quên ứng dụng những thành tựu ban đầu vào phục vụ trực tiếp cho sản xuất và xây dựng đất nước, với các công trình: Vấn đề phân chia khu vực địa lý của nước ta (tập san Văn Sử Địa tháng 2-1957); Mưa ở nước ta ảnh hưởng đến việc trồng trọt như thế nào? (tập san Văn Sử Địa tháng 7-1957)…



